Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 22/08/2007 14:32 (GMT+7)

Về một số cụm thuật ngữ danh từ trong ngôn ngữ công nghệ thông tin

1. Đặt vấn đề

Song song với tốc độ phát triển đến chóng mặt của ngành công nghệ thông tin trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, ngôn ngữ sử dụng trong ngành công nghệ này cũng có những bước phát triển đáng lưu tâm. Theo quan sát ban đầu, ngôn ngữ sử dụng trong ngành công nghệ thông tin vừa mang tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc, tính định danh của một ngôn ngữ khoa học chuyên ngành lại vừa phong phú, đa dạng, mang đầy màu sắc của thực tế cuộc sống mà nó phản ảnh. Việc sáng tạo ra ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ là khả năng vô cùng vô tận của con người, cho nên, dù chúng ta có viết bao nhiêu về nó có lẽ vẫn là chưa đủ. Do vậy, trong phạm vi của bài báo nhỏ này, chúng tôi xin trình bày một vài hiện tượng thú vị trong một bộ phận thuật ngữ danh từ của tiếng Anh chuyên ngành công nghệ thông tin mà tôi quan sát được trong quá trình làm việc.

2. Một số hiện tượng được quan sát

Cụm thuật ngữ danh từ được sử dụng rất nhiều trong ngành công nghệ thông tin. Theo một nghiên cứu được tiến hành gần đây của chúng tôi, số lượng cụm thuật ngữ danh từ chiếm 95,9% số lượng các cụm thuật ngữ chuyên ngành công nghệ. Trong đó, mối liên hệ chặt chẽ giữa công nghệ thông tin và cuộc sống xã hội được thể hiện rất đầy đủ và đa dạng qua những thuật ngữ có chứa các từ chỉ quan hệ thân tộc, chỉ bộ phận cơ thể, chỉ giới, v.v. Tuy nhiên, trong phạm vi của bài viết này tôi chỉ xin được trình bày những quan sát của mình về một số hiện tượng cụ thể như cụm thuật ngữ danh từ có từ chỉ quan hệ thân tộc, từ chỉ bộ phận cơ thể và từ gọi tên động vật.

2.1. Cụm thuật ngữ danh từ chỉ quan hệ thân tộc

Theo quan sát của tôi, có những cụm thuật ngữ danh từ trong chuyên ngành công nghệ thông tin chứa từ chỉ quan hệ thân tộc như “motherboard”(bo mạch chủ, bảng mạch chính), “daughterboard”(bảng mạch con), “grandfather file”(tệp đã lưu trước nhất), “father file”(tệp lưu tiếp theo), và “son file”(tệp vừa lưu). Điều thú vị ở đây là trong những cụm thuật ngữ trên chúng ta không thể thay từ “mother”bằng từ “father”,từ “daughter”bằng từ “son”hay ngược lại, nghĩa là về mặt cấu tạo từ, chúng ta không có từ “fatherboard”, “sonboard”, “grandmother file”, “mother file”,hay “daughterfile”.

Trên thực tế thì trong ngành công nghệ thông tin, từ “motherboard”còn có một từ đồng nghĩa khác là “mainboard”và trong nhiều tài liệu về công nghệ thông tin hiện nay thì từ “mainboard”được dùng phổ biến hơn từ “motherboard”. Tuy nhiên, khi gọi tắt hoặc viết tắt thì người ta lại gọi bo mạch chủ là “mobo”- viết tắt của từ “motherboard”. Raymond (1996) cho rằng bảng mạch chính trong máy tính là bảng mạch quan trọng nhất cho sự hoạt động của máy tính và trong những ngày đầu tiên của ngành công nghiệp máy tính thì chỉ có đàn ông mới làm việc trong ngành này và những người đàn ông đó đã quyết định gọi bộ phận quan trọng nhất của máy tính là “motherboard”để thể hiện sự biết ơn, lòng kính trọng của họ đối với “bàn tay đưa nôi” của thế giới - những người mẹ, những người phụ nữ đã lặng lẽ ủng hộ họ trong sự nghiệp của mình.

Về phía cá nhân, tôi cũng xin mạo muội trình bày suy nghĩ của mình về từ này như sau: tôi cho rằng để hiểu được vì sao “motherboard”lại được gọi như vậy và từ “mother”không thể thay thế bằng từ “father”thì chúng ta phải tìm hiểu về mặt ngữ nghĩa của từ. Về bản chất, từ ”motherboard”dùng để chỉ bảng mạch chính, lớn nhất của máy tính và được dùng để gắn những bộ phận quan trọng nhất đảm bảo cho sự hoạt động của một hệ thống máy tính như bộ xử lý, bộ nhớ chính, các bảng mạch con, các buýt điều khiển và kết nối, … Bo mạch này như một người mẹ bảo trợ và sản sinh hoạt động của các bộ phận khác của máy tính. Chính cách gọi là “motherboard”chứ không phải là “fatherboard”mới thể hiện được thiên chức tự nhiên của người mẹ phản ánh qua ngôn ngữ của ngành công nghiệp máy tính.

Cũng chính vì vậy, bảng mạch in được gắn vào bo mạch chủ (motherboard) để cung cấp các chức năng hoạt động phụ cho máy tính được gọi là “daughterboard”chứ không phải là “sonboard”vì cái bảng mạch con này cũng có những đặc tính của “motherboard”, chỉ khác là nó nhỏ hơn. Tôi cũng cho rằng cách gọi “motherboard - daughterboard”không những thể hiện được sự gắn kết về mặt kỹ thuật mà còn phản ánh được mối quan hệ gắn bó giữa mẹ và con gái trong thực tế cuộc sống.

Tương tự như vậy, mối quan hệ thể hiện sự thừa kế, di truyền thế hệ cũng được thể hiện trong ngôn ngữ của ngành công nghiệp máy tính qua các từ “grandfather file”, “father file”“son file”. Trong việc lưu trữ dữ liệu, để phân biệt các tệp lưu trữ có liên quan đến nhau thì người ta gọi tệp mới lưu nhất là “son file”, tệp được lưu trước đó là “father file”và tệp được lưu trước nữa là “grandfather file”. Ở đây, chúng ta cũng không thể thay thế từ “father”và từ “son”bằng các từ tương ứng là “mother”“daughter”được, vì ba từ “grandfather file”, “father file”“son file”được dùng để chỉ ba tệp tin về cơ bản có những điểm giống nhau, chỉ khác về một số nội dung chỉnh sửa. Tôi nhận thấy mối quan hệ gia đình gần gũi, tính chất kế thừa và di truyền qua các thế hệ, hay nói một cách khác, mối quan hệ “cha truyền con nối” được thể hiện ở đây rất rõ rệt.

Những phân tích trên cho thấy mối quan hệ gia đình như mẹ - con, cha - con, ông - cháu trong cuộc sống đời thường được thể hiện khá rõ nét trong ngôn ngữ chuyên ngành công nghệ thông tin.

2.2. Cụm thuật ngữ danh từ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể

Theo quan sát của chúng tôi, có rất nhiều cụm thuật ngữ danh từ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể được sử dụng trong ngôn ngữ công nghệ thông tin, phổ biến thường có các từ head(đầu), hair(tóc), face(mặt), arm(cánh tay), elbow(khuỷu tay), palm(lòng bàn tay), hand(bàn tay), leg(chân), foot(bàn chân), …

Những từ chỉ bộ phận cơ thể trên là một phần của những danh từ ghép như read/write head(đầu đọc, đầu ghi), head-mounted display(thiết bị hiển thị đội đầu, màn hình hiển thị đội đầu), overhead(thủ tục bổ sung), head slot(khe đầu từ), erase head(đầu xóa), head-crash(rơi đầu từ), head-life(tuổi thọ đầu từ), scan head(đầu quét), web head(người thường xuyên truy cập website), hair line(đường kẻ mảnh), hairline space(độ đậm đường kẻ), access arm(cần truy cập), handshake(bắt tay, thiết lập quan hệ), handheld(thiết bị cầm tay), mouse elbow(chứng mỏi cổ tay do dùng chuột), palm top(máy tính bỏ túi), palm-size devices(các thiết bị cầm tay), boot leg(sao chép trộm), footnote(cước chú, chú thích chân trang), footprint(dấu ấn, dấu chân, vùng để máy tính), foot rest(cái để chân), …

Tôi nhận thấy rằng những cụm thuật ngữ danh từ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể thường được dùng để gọi các thiết bị phần cứng trong ngành công nghệ thông tin, trong đó từ “head”được sử dụng nhiều hơn cả trong số những từ chỉ bộ phận cơ thể. Tuy nhiên trong phạm vi của bài báo này, tôi chỉ xin đề cập đến hai từ chứa từ “hand”(tay) và từ “foot”(chân) đó là “handshake”(cái bắt tay) và “footprint”(dấu chân, dấu ấn). Cả hai từ này đều được dùng rất nhiều trong cuộc sống thường ngày, nhưng khi được sử dụng trong ngành công nghệ thông tin, chúng ta thấy ở đây có sự dịch chuyển về nghĩa, nghĩa của từ trong cuộc sống đời thường đã chuyển thành nghĩa chuyên ngành, hay nói các khác là vẫn với ý nghĩa đó những mối quan hệ giữa hai chủ thể đã khác đi rất nhiều.

Trước tiên chúng ta xem xét từ “handshake”.Giống như nghĩa của từ “bắt tay” - thể hiện mối quan hệ giữa người với người trong xã hội, khi được sử dụng trong ngành công nghệ thông tin, từ “handshake”được dùng để chỉ tín hiệu báo rằng thông tin đã sẵn sang được truyền đi, hay hai thiết bị nào đó đã sẵn sàng “giao tiếp” với nhau. Để chỉ sự kết nối giữa hai thiết bị phần cứng, từ “handshake”thể hiện như cái bắt tay cơ học giữa hai con người, còn để chỉ sự kết nối giữa hai phần mềm, thì từ “handshake”giống như sự đồng ý hợp tác sẵn sàng giao tiếp bằng một ngôn ngữ chung giữa hai con người.

Khác với từ “handshake”,từ “footprint”lại có sự chuyển nghĩa gần như hoàn toàn, nó không giữ nguyên nghĩa là “dấu chân” hay “dấu ấn” như nghĩa đời thường, mà khi được sử dụng trong ngành công nghệ thông tin “footprint”là từ dùng để chỉ vùng, khu vực để máy tính trên một vật gì đó (ví dụ như bàn làm việc chẳng hạn). Rõ ràng ở đây, nghĩa “dấu ấn” của từ “footprint”đã bị mất hoàn toàn, còn nghĩa “dấu chân” có thể coi là còn giữ lại một chút, nhưng nếu đề nghị dịch từ “footprint”trong chuyên ngành công nghệ thông tin là “dấu chân máy tính” thì tôi e là gượng ép quá.

2.3. Cụm thuật ngữ danh từ chứa từ gọi tên động vật

Như chúng ta đã biết, một tên con vật được sử dụng rất phổ biến trong ngôn ngữ công nghệ thông tin, đó là con chuột (mouse). Trong đó, chúng ta có thể gặp các từ như mouse icon(biểu tượng chuột), mouse pointer(con trỏ chuột), mouse pad(bàn di chuột), mouse sensitivity(độ nhạy chuột), mouse elbow(chứng mỏi cổ tay do dùng chuột), … Từ bao lâu nay người ta vẫn thắc mắc tại sao chuột, chứ không phải là mèo hay bất cứ loài động vật nào khác lại được đặt tên cho thiết bị được gọi và dùng thường trực đến thế trong ngành công nghệ thông tin.

Trong bài này, người viết xin được đề cập đến một con vật khác cũng được dùng trong ngành công nghệ thông tin đó là con khỉ (monkey). Trong ngành công nghệ thông tin, để chỉ người mới tập thiết kế website bằng những công cụ đơn giản nhất người ta thường dùng từ “script monkey”hay “script kiddy”. Việc sử dụng hình ảnh con khỉ - một con vật nghịch ngợm hay bắt chước để diễn tả hình ảnh của những người mới tập thiết kế web đã giúp người nghe đọc/hiểu được một cách đầy đủ về nghĩa của từ này qua sự liên tưởng hình ảnh.

3. Kết luận

Những trình bày ở trên, dẫu chỉ là quan sát sơ lược về một vài hiện tượng ngôn ngữ trong ngành công nghệ thông tin, nhưng chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ giúp bạn đọc phần nào nhận thấy được sự phong phú, đa dạng và đầy màu sắc của ngôn ngữ chuyên ngành này. Ngôn ngữ sử dụng ở đây không chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực tế cuộc sống qua những cụm thuật ngữ danh từ chứa từ chỉ quan hệ thân tộc, từ chỉ bộ phận cơ thể, từ gọi tên động vật mà nó còn có cả những cụm từ thuật ngữ danh từ chứa từ chỉ các quan hệ xã hội, chỉ giới tính, các từ tượng thanh, tượng hình, v.v. Tuy nhiên, đề cập đến tất cả những vấn đề đó đòi hỏi phải có nghiên cứu trên diện rộng, với những tìm tòi kỹ càng và sâu sắc, với một vốn kiến thức và lý luận nhất định. Người viết hy vọng rằng sẽ có dịp trở lại vấn đề này trong một bài báo khác.

Nguồn: Ngôn ngữ và Đời sống, số 5/2007, tr 21

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.