Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 30/03/2010 07:00 (GMT+7)

Văn hóa Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc xã hội sau Cách mạng Tháng Tám

Cho nên sau sự kiện lớn lao mang ý nghĩa kết quả của cả một tiến trình hàng ngàn năm trong đó con người Việt Nam liên tiếp mở rộng không gian xã hội của mình thông qua các hệ thống Đông Nam Á, Đông Á rồi phương Tây đồng thời là một bước tiến của lịch sử Việt Nam này, văn hóa Việt Nam cũng bước vào một giai đoạn phát triển mới trong đó tiền đề chủ yếu là những thay đổi trong thiết chế, tổ chức và quan hệ của xã hội Việt Nam, những thay đổi mang tính chất một quá trình tái cấu trúc xã hội gian nan suốt sáu mươi năm qua vẫn chưa hoàn tất.

Ngay sau ngày tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong phiên họp Chính phủ ngày 3. 9. 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất sáu vấn đề là chống đói, chống nạn dốt, xây dựng Hiến pháp mới, xóa bỏ các hủ tục và tệ nạn xã hội, xóa bỏ thuế thân, thực hiện tự do tín ngưỡng... trong đó ngoại trừ việc chống đói, năm vấn đề còn lại đều hướng tới xây dựng một xã hội theo mô hình dân chủ pháp quyền hiện đại kiểu phương Tây. Cần nói thêm là từ Chương trình Việt Minh 1941 rồi Đề cương văn hóa Việt Nam 1943, những người cộng sản Việt Nam cũng đã dự kiến về một xã hội hoàn toàn khác trước. Nhưng bước vào xã hội hiện đại sau 1945, con người Việt Nam chỉ được lịch sử dành cho một con đường quá hẹp, nên đến 1975 quá trình tái cấu trúc xã hội ở đây đã diễn ra một cách phiến diện về nội dung, nửa vời về tính chất, bất ổn về nhịp điệu và phân tán về không gian. Bị hút vào cuộc chiến tranh giữ gìn độc lập kéo dài đến 1975, quá trình này dần dần đi lệch khỏi quỹ đạo lẽ ra phải có. Sự thay đổi về cấu trúc và chức năng của các tổ chức và yếu tố xã hội ở đây bị khuôn nắn trong điều kiện thời chiến, nên sự phát triển văn hóa ở Việt Nam trước 1975 trong thực tế chỉ phản ảnh sự thay thế và xung đột giữa các mô hình xã hội phục vụ chiến tranh. Và nếu thừa nhận một trong những nội dung đã làm nên tính chất khốc liệt của các cuộc đấu tranh xã hội trong thế kỷ XX là đấu tranh ý thức hệ, thì cần nói thêm rằng nội dung ấy cũng trình hiện một cách đậm nét trong cuộc đấu tranh giữa các mô hình xã hội ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám. Việc lập lại hòa bình tạm thời năm 1954 do đó không đưa tới điều gì khả quan hơn, vì sau hiệp định Genève tuy quá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam bị chia thành hai khu vực có nội dung và tính chất khác nhau song chính quyền ở hai miền đều hướng tới xây dựng những xã hội phi dân sự. Phải nói rằng công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên địa bàn miền Bắc thực sự gắn liền với việc tổ chức một xã hội mới, nhưng những hạn chế trong quan niệm đấu tranh giai cấp đương thời đã dẫn tới nhiều sai lầm đáng tiếc mà nổi bật là trong cải cách ruộng đất, và kết quả là chúng ta đã đi tới một xã hội phân loại công dân. Cần nhắc lại rằng tất cả các quốc gia xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XX đều không hình thành theo đúng quy luật của sự phát triển phương thức sản xuất như K. Marx đã nêu ra, mà đều bắt đầu từ chỗ khẳng định thượng tầng kiến trúc rồi mới xây dựng hạ tầng cơ sở. Vai trò chủ đạo của hệ thống chính trị ở đây dẫn tới một kết quả tất yếu là chính trị hóa quá trình tái cấu trúc xã hội, nên văn hóa Việt Nam từ chỗ phục vụ cách mạng cũng sa đà vào việc phục vụ chính trị mà đặc trưng là hướng tới các mục tiêu gần, tình hình này trình hiện cả trên phương diện kế thừa truyền thống. Nền sản xuất xã hội nào cũng luôn có mối ràng buộc chặt chẽ và toàn diện với truyền thống, nên khi tách rời nền sản xuất ấy thì người ta sẽ tách rời truyền thống. Quá trình tái cấu trúc xã hội trong hoàn cảnh chiến tranh mà đặc biệt là thời gian 1960 – 1975 đã khiến con người Việt Nam ít nhiều tách rời nền sản xuất của mình, đã tiêu dùng những cái không phải do mình sản xuất ra, nên cũng chỉ kế thừa được truyền thống một cách phiến diện và có mức độ. Sau khi Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960 quyết định tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam thì Phan Thanh Giản chủ hòa bị kết án, Phan Châu Trinh chủ trương bất bạo động bị phê phán. Trong một thời gian dài sau cải cách ruộng đất vô số cổ vật bị coi như tàn dư của văn hóa phong kiến đã trở thành sở hữu của các nhà sưu tập Đông Âu. Kiểu thức tái cấu trúc xã hội hướng tới các mục tiêu gần như vậy tạo ra sức mạnh cấp kỳ nhưng lại hàm chứa một nguy cơ tiềm ẩn vì không toàn diện đủ để tạo ra những tiềm năng văn hóa mới, nên giống như một thừa trừ của lịch sử, sức mạnh đã làm nên đại thắng 1975 lại trở thành gánh nặng đối với văn hóa Việt Nam cho đến 1985. Hình thành từ 1945 và bắt đầu định hình từ 1954, đến 1975 hệ thống chính trị Việt Nam mà hạt nhân là Đảng Cộng sản đã thu thập được rất nhiều kinh nghiệm đấu tranh chính trị, bảo vệ Tổ quốc nhưng lại chưa có thật nhiều kiến thức trong việc phát triển kinh tế, tổ chức xã hội, xây dựng văn hóa, mặt khác vì luôn phải xử lý những mâu thuẫn đối kháng, hệ thống này có một thái độ rất cứng rắn về ý thức hệ. Mô hình kinh tế bao cấp thời chiến và thiết chế xã hội phân loại công dân được nhân rộng ra trên địa bàn phía nam vĩ tuyến 17, gây ra những bất đồng sâu sắc về nhận thức và tâm lý trong nội bộ dân tộc. Ở các thành phố lớn, người dân sinh hoạt như trong trại lính, với sự kiểm soát chặt chẽ về hộ khẩu kèm theo việc cấp phát tủn mủn về cái ăn. Quá trình tái cấu trúc xã hội ở đây do đó càng tách rời các mục tiêu xã hội. Cho nên mặc dù có được một nguồn lực quan trọng là quán tính thời chiến, nền văn hóa mới của nước Việt Nam độc lập và thống nhất sau 1975 vẫn bị hạn chế trên nhiều phương diện. Chiến tranh ở biên giới tây nam rồi biên giới phía bắc lại tạo ra áp lực chính trị nặng nề đối với sinh hoạt xã hội, dẫn tới sự định hình hệ thống chuẩn mực văn hóa chính thống thiên về các chế định chính trị – tư tưởng. Sự thiếu thốn về kinh tế khiến nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhiều tầng lớp nhân dân rất nghèo nàn đồng thời mang tính chất thụ động. Thị trường văn hóa ở miền Nam trước đó cũng gần như hoàn toàn bị hủy diệt để thay thế bằng một cơ chế tự túc và cấp phát văn hóa không theo luật cung cầu. Văn hóa Việt Nam sau 1975 do đó đã bộc lộ những điểm yếu rõ rệt. Không có được cơ sở xã hội thực sự và nền tảng kinh tế cần thiết, nền văn hóa mới ở Việt Nam thời gian 1975 – 1985 bị hạn chế rất lớn về khả năng phát triển đồng thời trình hiện tính chất mâu thuẫn trong một phương thức tồn tại không kích thích sức sáng tạo. Tình hình này đã từng bước thay đổi từ khi Việt Nam bước qua thời mở cửa và hội nhập từ 1986 đến nay.

Việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đã đưa quá trình tái cấu trúc xã hội ởViệt Nam từ 1986 trở đi bước qua một giai đoạn mới. Sau Cách mạng Tháng Tám, đây là lần đầu tiên quá trình này được tiến hành một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc và một cách toàn diện trên cơsở việc tái cấu trúc nền kinh tế. Tình hình này đã quy định cho nó hai nội dung, tức một mặt là bình thường hóa các thiết chế, tổ chức và quan hệ xã hội theo hướng dân sự hóa, một mặt là chuẩn hóacác hệ thống, lãnh vực và quá trình xã hội theo hướng hiện đại hóa. Những thay đổi trong sinh hoạt xã hội Việt Nam từ 1986 trở đi do đó vừa phản ảnh quá trình cố kết cộng đồng mới vừa thể hiện xu thếthoát ly xã hội cũ, nhưng trên khía cạnh tác động tới văn hóa thì quá trình và xu thế nói trên lại không ăn khớp với nhau. Sự thay đổi về cấu trúc và chức năng của các tổ chức và yếu tố xã hội ở đâykhông được quy đồng về một mẫu số chung mang tính chất định hướng hệ giá trị, nên quá trình tái cấu trúc xã hội từ 1986 lại rơi vào mâu thuẫn giữa phát triển và ổn định, hay nói rõ hơn là sự chuyểnđổi không đồng bộ của các thiết chế, tổ chức và quan hệ đã dẫn tới tình trạng mất cân bằng giữa các hệ thống, lãnh vực và quá trình. Cũng phải nói rằng các quá trình tái cấu trúc trong quá khứ vẫnchưa dừng lại ngay lập tức bởi quán tính lịch sử của chúng, sự đan xen này tạo ra một tình trạng hoang mang nếu không nói là mất định hướng về hệ giá trị. Cho nên hệ giá trị mới vẫn chưa thực sự địnhhình, điều này thể hiện rất rõ qua tình trạng bị động trước thực tế của hệ thống quản lý xã hội. Chẳng hạn do không được thay thế một cách đồng bộ và kịp thời, các hệ thống chuẩn mực xã hội cũ khôngcó đủ sức mạnh chế định như đạo đức, phong tục... bị vi phạm toàn diện và liên tục, còn những hệ thống mạnh hơn như luật pháp cũng đang lúng túng trước mâu thuẫn giữa một bên là thực tiễn xã hội vàmột bên là khả năng điều tiết, và do đó những nỗ lực giành lại thế chủ động trên phương diện này nhiều khi chỉ mới bộc lộ khát vọng kiểm soát chứ chưa thể hiện năng lực thích nghi. Cũng chính vìthiếu đi quan niệm thống nhất về một hệ giá trị mới, quá trình cố kết cộng đồng mới đã được thực hiện một cách tự phát, phân tán và không đồng bộ giữa các nhóm xã hội, từ đó dẫn tới hiện tượng “nhiềucộng đồng”. Trên nền tảng sự phân hóa rộng khắp về mức sống, lối sống và quan niệm sống ấy, một xã hội phân loại công dân kiểu mới đang hình thành một cách tự phát, nên không lạ gì mà khi nhìn lạiquá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam từ 1986 đến nay dễ nhận ra hiện tượng phổ biến là các biến động tổ chức đều ít nhiều dẫn tới tình trạng lạm dụng chức năng... Cũng cần nói tới tình hình khôngăn khớp về định hướng và nhịp điệu giữa quá trình tái cấu trúc xã hội với quá trình tái cấu trúc kinh tế. Những thành tựu về kinh tế hai mươi năm qua chưa đủ sức đưa sinh hoạt kinh tế ở Việt Nam bướcqua một quỹ đạo khác hẳn về chất trong khi việc mở cửa và hội nhập lại đưa tới hệ quả tất yếu là sự chấp nhận nhiều giá trị và chuẩn mực nước ngoài. Cho nên trên cả ba phương diện là sản phẩm vật hóacủa tinh thần, hình thái ý thức và nhất là phương thức sinh hoạt, văn hóa Việt Nam đều phải đối mặt với những thách thức chưa từng có. Việc giải phóng sức sản xuất mà cụ thể là xây dựng một nền kinhtế nhiều thành phần đang làm hình thành ở Việt Nam một thị trường văn hóa thực sự với mức độ hàng hóa hóa các sản phẩm văn hóa ngày càng được nâng cao, nhưng bị căng ra để đáp ứng các yêu cầu phongphú và đa dạng hơn, thiết chế văn hóa vốn có cũng đang nứt rạn về quan hệ. Một tầng lớp gồm vài thế hệ những người sinh sau 1975 đang định hình, với lối sống ít nhiều mang những dấu hiệu của việc phủnhận cội nguồn và ly khai truyền thống. Song nguy cơ lớn nhất mà chúng ta đang phải đối diện ở đây là sự tái cấu trúc méo mó của một xã hội có nền kinh tế hàng hóa tiên thiên bất túc, trong đó đặctrưng nổi bật là phương thức sản xuất không ăn khớp với phương thức tiêu dùng, hay nói đơn giản hơn, có trình độ tiêu dùng vượt xa trình độ sản xuất. Việc tách rời nền sản xuất vật chất mà đặc biệtlà trong thời gian 1975 – 1985 đã tạo ra trong quá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam một khiếm khuyết là không hướng tới đáp ứng các nhu cầu của quá trình tái cấu trúc kinh tế, và từ 1986 trở đikhiếm khuyết này đã trở thành một quán tính không lành mạnh, với biểu hiện nổi bật là chạy theo hiệu quả trước mắt mà coi nhẹ lợi ích lâu dài. Cho nên việc hướng tới các giá trị bên ngoài và sự thiếuvắng các chuẩn mực chính thống đang dồn văn hóa Việt Nam vào một ngõ cụt, ở đó quá trình cố kết cộng đồng mới theo hướng hiện đại hóa bị hút vào quỹ đạo của sự bần cùng hóa về triết học, còn xu thếthoát ly xã hội cũ theo hướng dân sự hóa bị hút vào quỹ đạo của sự tha hóa về đạo đức. Quá trình tái cấu trúc xã hội ở Việt Nam hiện nay do đó đang tách rời kết quả tái cấu trúc kinh tế mà bám rễ vàonguồn đầu tư để tái cấu trúc kinh tế, tóm lại ở đây có một cơ chế ký sinh đang tác động khiến cho vốn đầu tư càng nhiều thì tiềm năng bị cạn kiệt càng nhanh. Phương thức sinh hoạt kinh tế phi đạo đứcấy tự nhiên sẽ dẫn tới một phương thức sinh hoạt xã hội vô chính phủ, nên chúng ta đang phải đối diện với một sự khủng hoảng toàn diện về trật tự xã hội, ở đó các điều khoản pháp lý, các chuẩn mựcđạo đức trong nhiều trường hợp chỉ còn là cái vỏ ngôn từ.

Sau ba mươi năm giành được độc lập Việt Nam mới chấm dứt được chiến tranh, và sau ba mươi năm chấm dứt được chiến tranh Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi địa vị một quốc gia đói nghèo lạc hậu. Hoàn cảnh lịch sử ấy khiến cho trong thời gian từ Cách mạng Tháng Tám đến nay, văn hóa Việt Nam chưa bao giờ phát huy được một cách toàn diện và toàn bộ sức mạnh của nó trong việc thúc đẩy cũng như điều chỉnh quá trình tái cấu trúc xã hội trong đất nước. Nhưng nếu sức mạnh làm người ta tin tưởng thì điểm yếu lại giúp người ta tỉnh táo, và trong ý nghĩa này, việc nhận chân những điểm yếu ấy có thể góp phần tích cực vào việc kích hoạt những sức mạnh tiềm tàng đã tích tụ qua hàng ngàn năm trong văn hóa Việt Nam .

Là một yếu tố vừa góp phần thực hiện vừa góp phần phản ảnh quá trình tái cấu trúc xã hội suốt sáu mươi năm qua, văn hóa Việt Nam mang trong cơ cấu phát triển của nó nhiều tiềm năng xã hội cũng như khát vọng chính trị. Những tiềm năng ấy có được khơi dậy một cách có hiệu quả không, những khát vọng ấy có được thể hiện một cách có trách nhiệm không tùy thuộc rất nhiều vào hệ thống chính trị. Sự ngạo mạn ý thức hệ và thói cực đoan đạo đức luận như trước đây chỉ dẫn tới những sai lầm đáng tiếc, bởi vì như người ta đã thấy, quá trình tái cấu trúc này phải đặt nền móng toàn diện và lâu dài cho sự phát triển của một Việt Nam độc lập, hòa bình và thịnh vượng, cho nên để trở thành cái trục đồng quy, cái nền liên kết có thể quy tụ tất cả các lực lượng xã hội trong đất nước tham gia quá trình ấy, hệ thống chính trị phải tự thể hiện mình trước hết như hạt nhân pháp lý và đạo đức của một xã hội ngăn chặn được nguy cơ phân loại công dân.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.