Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 19/05/2008 15:03 (GMT+7)

Văn hóa và sự hóa giải những hận thù

Trong lúc các nhà hoạt động chính trị của cả hai phía đều giữ những cái nhìn tưởng không gì lung lạc được của mình đối với “kẻ thù” thì các trí thức, bao gồm các nhà hoạt động văn hóa, các văn nghệ sĩ và cả các nhà khoa học đã bắt đầu quyết định những bước đi của họ mà trong con mắt của không ít người đó là những bước đi của chủ nghĩa lãng mạn chính trị.

Nhưng hơn ai hết, họ thấu hiểu rằng chỉ có văn hóa mới đủ quyền năng làm thay đổi thế giới và hóa giải những hận thù. Và họ, từng bước, từng bước một, bắt đầu xây dựng một con đường của văn hóa xuyên qua đại dương từ Việt Nam đến Mỹ. Những bước đi của họ không phải là những bước đi của chủ nghĩa lãng mạn chính trị mà là những hiển lộ của vẻ đẹp văn hóa và khát vọng hòa bình.

Tôi không biết chính xác đại sứ của văn hóa và hòa bình đầu tiên của Việt Nam đến Mỹ sau năm 1975 là ai. Nhưng người gây nên một cơn “địa chấn” là nhà văn Lê Lựu và nhà văn một thời ở phía bên kia – Ngụy Ngữ. Chuyến đi của Lê Lựu và Ngụy Ngữ đến Mỹ đã thay đổi không nhỏ cái nhìn của người Mỹ về một dân tộc từng là kẻ thù của họ, mặc dù, việc xin visa vào Mỹ của nhà văn Ngụy Ngữ gặp trắc trở.

Không ít những cuộc biểu tình chống đối và cả sự đe dọa tính mạng ở những nơi mà Lê Lựu cũng như các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ khác đến và cả những cuộc “biểu tình” trên một số tờ báo tiếng Việt ở Mỹ. Nhưng thời điểm đó, việc thay đổi cái nhìn của những người Mỹ chính gốc đối với đất nước Việt Nam là một điều hệ trọng giống như một sứ mệnh.

Sau năm 1975, có một điều mà hầu hết những người quan tâm lúc đó đều biết là rất nhiều những người Mỹ đến Việt Nam đều nằm trong một cái nhìn e ngại và hoài nghi của người Việt. CIA đấy. Một câu nói gần như là câu nói cửa miệng của nhiều người Việt Nam . Người ta không tin những người Mỹ đã ngang nhiên mang hàng chục vạn tấn bom dội lên đất nước này lại có thể có những nụ cười và cái bắt tay thân mật thực sự. Và cũng như thế đối với không ít người Mỹ, những người Việt Nam, đặc biệt là những người Việt Nam nói giọng Bắc đến Mỹ đều được coi là các chuyên gia tuyên truyền của Cộng sản.

Đã có lúc ở đâu đấy trong lòng nước Mỹ, người Mỹ đã báo động giả về sự xâm lăng của tư tưởng Cộng sản. Đây không phải là một sự nhầm lẫn. Đây là một chiến dịch chống cộng được hoạch định kỹ lưỡng. Và dù có một ai đó trong những người Mỹ đến Việt Namvà người Việt Nam đến Mỹ thực thi một thứ nhiệm vụ nào đó không thuộc về văn hóa thì sớm hay muộn đều thất bại. Văn hóa giống như sức mạnh của thời gian trong những bước ngoặt của sự đổi mùa. Nó thay đổi trời đất một cách kỳ lạ. Nó làm cho tất cả những gì thuộc về sự sống vụt hiện ra lộng lẫy mà không gì cản được.

Nhưng khi những vẻ đẹp và tính nhân văn của văn hóa của kẻ thù hé lộ thì một chuyển động lớn bắt đầu. Việc xuất hiện của các nhà văn hóa, các nghệ sĩ đặc biệt là nhà văn đã cuốn hút người Mỹ. Họ tiếp xúc với các sứ giả đến từ Việt Nam với mục đích xem những người của phía bên kia suy nghĩ gì về nước Mỹ và về thế giới. Sự xuất hiện của các nhà văn hóa cùng các văn nghệ sĩ đã mở ra những ô cửa đầu tiên để người Mỹ nhìn vào lâu đài văn hóa Việt Nam . Và đôi mắt ngờ vực và thù hận được bóc đi một phần lớn của lớp mộng dày đã che phủ cái nhìn của họ trong một thời gian dài.

Các trí thức Mỹ bắt đầu tìm cách chỉ cho công chúng Mỹ biết thực chất mảnh đất mà Chính phủ của họ tiến hành cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ XX để chống lại chứa đựng những gì? Ở đó chứa đựng một nền văn hóa lâu đời với khát vọng về hòa bình và chủ nghĩa nhân văn không bao giờ bị chết cho dù nền văn hóa ấy và khát vọng hòa bình ấy có lúc bị vùi dập và bị cầm tù trong những thăng trầm của lịch sử trên mảnh đất này.

Larry Rottman, một giáo sư văn học, một nhà thơ, một cựu binh đã từng đến Việt Namtổ chức lễ cưới bạc của ông, đã sáng tạo ra một lớp học đặc biệt về chiến tranh Việt Nam . Nhưng thực chất đó là lớp học về văn hóa và con người Việt Nam . Trong lớp học này, một sinh viên đóng vai một lính Mỹ và một sinh viên đóng vai một người lính Việt Nam . Cả hai đọc những cuốn nhật ký của những người lính của hai phía mà phía Mỹ thu giữ được trong thời gian chiến tranh. Họ đã ngạc nhiên nhận ra rằng: trong hầu hết những trang nhật ký đó, những người lính Việt Nam chỉ nói về quê hương, về người mẹ, về tình yêu và về giấc mơ trở về của họ khi chiến tranh kết thúc. Ở đó, không có sự sợ hãi và tuyệt vọng. Ở đó là một lòng tin bất diệt. Điều đó chỉ có thể được dựng lên bởi tinh thần văn hóa của một dân tộc lâu đời.

Các văn nghệ sĩ Việt Nam cùng nhà văn Mỹ danh tiếng Grace Paley
Các văn nghệ sĩ Việt Nam cùng nhà văn Mỹ danh tiếng Grace Paley
Năm 1994, Nhà xuất bản Báo chí Đại học Massachusetts xuất bản tập thơ mang tên: Thơ từ những tài liệu được thu giữ. Đó là những bài thơ chép trong sổ tay của những người línhViệt Nam mà Quân đội Mỹ thu giữ được trong chiến tranh. Tập thơ này đã gây tiếng vang trong dư luận bạn đọc Mỹ. Người ta không tìm thấy sự tuyệt vọng, lòng hận thù, nỗi sợ hãi… của những người línhViệt Nam trước cái chết mà chỉ thấy ở đó hiện lên những vẻ đẹp tâm hồn và khát vọng về tình yêu và tự do. Chính văn hóa của dân tộc Việt Namđã làm lên tâm hồn như vậy của những người lính Việt Nam .Vẻ đẹp trong tâm hồn của những người lính Việt Nam chính là vẻ đẹp của văn hóa. Và rất nhiều người Mỹ bắt đầu nhận ra rằng: họ đã không hiểu gì về mảnh đất mà họ từng đưa con em họ đến đó với tất cảnhững vũ khí giết người tối tân bấy giờ.

Từ năm 1975 đến năm 1995, có khoảng 3000 đầu sách viết về Việt Nam đã được xuất bản tại Mỹ nhằm lý giải cuộc chiến tranh mà người Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam và lý giải đất nước Việt Nam. Việt Namkhông phải là một cuộc chiến tranh, Việt Nam là một đất nước – Đó là nhận xét của những người Mỹ sau một thời gian dài. Câu nói quá ư bình thường đó lại là một nhận thức quan trọng với người Mỹ. Sau nhận thức ấy, người Mỹ bắt đầu xem lại các chính sách của Chính phủ Mỹ đối với Việt Nam. Người Mỹ cho rằng: nếu họ hiểu được văn hóa Việt Nam thì có lẽ không có cuộc chiến tranh tàn khốc như vậy. Và nếu họ hiểu được văn hóa Việt Nam thì quan hệ của hai dân tộc này đã được xây dựng sớm hơn rất nhiều. Tất nhiên cuối cùng thì mọi hành xử lầm lạc của con người cũng được văn hóa cứu rỗi và được chỉ lối.

Bill Edhard, một lính Mỹ đã tham chiến ở Đà Nẵng, đã trở lại vùng đất này sau chiến tranh. Trong thời gian chiến tranh, ông thường đi tuần và lúc nào ông cũng thấy kinh sợ khi đến một khúc ngoặt của con đường. Ông không biết có gì ở đó và những gì sẽ xảy ra sau khúc ngoặt con đường đó. Và ông đã đến. Ông đã đi thật chậm qua khúc ngoặt con đường. Nhưng không có gì xảy ra. Chỉ có sự yên bình và những người dân đón ông như đón một người bạn. Ông trở về Mỹ và không còn mang những ám ảnh đen tối về mảnh đất này nữa.

Tôi đã đi cùng nhà văn Mỹ danh tiếng Phillip Caputo, Giải Sách Quốc gia Mỹ cho tiểu thuyết "Dư âm chiến tranh", đến vùng Thượng Đức, Quảng Nam, nơi Caputo đã tham chiến. Caputo tìm đến một làng bên bờ sông Túy Loan. Đó là một làng quê nhỏ nhưng đã từng là nỗi kinh hoàng đối với lính Mỹ. “Chúng tôi không bao giờ dám vào đó” – Caputo nói. Nhưng trong chuyến trở lại Việt Nam , Caputo muốn đến tận cái làng đó để xem trong đó có gì (?). Một gia đình nông dân đã làm cơm thết đãi chúng tôi. Họ đã làm thịt con gà ngon nhất đàn để đãi khách và dành chiếc giường tốt nhất cho vợ Caputo.

Đêm đó, chúng tôi ngủ lại làng. Caputo mắc võng giữa hai cái cột hiên nhà nằm ngủ. Sáng sau Caputo nói: “Đêm qua tôi nghe côn trùng kêu suốt đêm và lần đầu tiên tôi tin không có gì bất trắc xảy ra với tôi ở mảnh đất này nữa”. Caputo kể hồi còn đóng quân trong boongke trên một ngọn đồi Thượng Đức, những lính Mỹ rất sợ khi tiếng côn trùng trong đêm đang kêu chợt im bặt. Họ biết có người đang bò đến gần boongke. Đó là du kích hoặc quân giải phóng. Và bất cứ lúc nào những lính Mỹ trong boongke cũng có thể hứng trọn những quả lựu đạn bay vào. Chuyến đi của Caputo do Tạp chí Khám phá Địa cầucủa Mỹ tổ chức. Tạp chí này muốn Caputo viết về mảnh đất khốc liệt và đầy sợ hãi đối với lính Mỹ trong chiến tranh giờ như thế nào.

Cùng với việc viết về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, người Mỹ đã xuất bản những tác phẩm văn hóa, văn học Việt Nam tại Mỹ. Ngoài việc xuất bản các tác phẩm trên các tạp chí, trong các tuyển tập…, họ còn xuất bản các tác phẩm thơ Việt Nam bằng một hình thức có thể đến với bạn đọc dễ nhất và nhiều nhất. George Evans, nhà thơ cựu binh Mỹ, đã xuất bản thơ Việt Nam bằng một hình thức gọi là Wall Journal. Các bài thơ được in trên một trên một khổ giấy lớn có ảnh minh họa giống một tấm pano và dán ở những nơi có nhiều người qua lại nhất như sân bay, ga tàu, bến xe, trường học…

Nghệ sĩ rối nước Chu Lượng và nhà thơ Trần Tiến Dũng tại New York.
Nghệ sĩ rối nước Chu Lượng và nhà thơ Trần Tiến Dũng tại New York.
Tôi đã nhìn thấy thơ của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương và các nhà thơ hiện đại như Chế Lan Viên, Nguyễn Duy v.v… được xuất bản theo hình thức này tại Mỹ. Một cựu binh Mỹ khác, nhà nghiên cứu vănhọc John Balaban, đã tự dịch ca dao dân ca Việt Nam sang tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ. Thật lạ lùng, đó là một cuốn sách bán chạy. Những cuốn sách như thế vượt qua mọi cuốn sách với những dòng chữtím bầm hận thù.

Sau lần tổ chức cho nhà văn Lê Lựu và Ngụy Ngữ đến Mỹ, Trung tâm William Joiner, Trung tâm nghiên cứu hậu quả chiến tranh và xã hội của Đại học Massachusetts, đã hàng năm tổ chức cho các nhà văn Việt Nam đến Mỹ để giới thiệu tác phẩm và đất nước của mình. Những Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Duy, Nguyên Ngọc, những Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Trí Huân, Lê Minh Khuê, Chu Lai, Tô Nhuận Vỹ, những Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Thị Như Trang, Trần Văn Thủy, Huệ Chi, Phan Thị Vàng Anh, những Y Ban, Nguyễn Quyến, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ và bao nhà văn nhà thơ cùng các nhà nghiên cứu văn hóa, các giảng viên đại học, các họa sĩ, các nghệ sĩ biểu diễn và cả các nghiên cứu sinh… đã đến Mỹ trong thời gian chiến tranh lạnh giữa hai dân tộc như những đại sứ của văn hóa và hòa bình đích thực.

Trung tâm William Joiner đã tìm mọi cách cho các đại sứ của văn hóa và hòa bình Việt Nam tiếp cận rất nhiều tầng lớp công chúng Mỹ. Một số nhà vănViệt Nam đã từng được Văn phòng của Thượng nghị sĩ John Kerry tại Washington tiếp đón và diễn thuyết về văn hóa Việt Nam. Trong những năm tháng mà quan hệ Mỹ - Việt  Namcăng thẳng, một tờ báo uy tín Mỹ đã gọi Trung tâm này là cánh tay nối dài của Cộng sản Việt Nam .

Nhưng hiện thực mà các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ Việt Nam mang đến cho công chúng Mỹ đã phá tan những chiến dịch bôi nhọ của một vài thế lực chống đối ở Mỹ và xóa đi sự ngờ vực và mối ác cảm vô cớ của nhiều người Mỹ. Sức mạnh của những hiện thực đó không gì ngoài những vẻ đẹp của văn hóa và thông điệp hòa bình của một dân tộc tưởng rằng chiến tranh đã có lúc làm cho hoang tàn. Một thế lực chính trị này có thể chống lại hoặc hủy diệt một thế lực chính trị kia. Nhưng không thế lực nào chống lại được văn hóa.

Rồi đến một ngày, các nhà viết sử sẽ phải dựng lại quan hệ Mỹ - Việt Nam trong toàn bộ lịch sử bang giao của hai dân tộc. Bởi đó là một lịch sử của máu, của sai lầm, của thù hận, của nhận thức, của tôn trọng, của những cảm xúc và ý thức về tương lai. Và trong lịch sử ấy, sự xuất hiện những đại sứ của văn hóa và hòa bình sẽ chiếm những chương quan trọng nhất. Bởi họ đã tìm ra chiếc chìa khóa để hóa giải những hận thù giữa hai dân tộc. Chiếc chìa khóa đó chính là văn hóa. Bởi chỉ văn hóa mới dựng lên đúng nhất và thẳm sâu tâm hồn nhất nhân cách của một dân tộc. Ngoài ra, không có gì có thể làm được.

Nguồn: vietimes.vietnamnet.vn (21/04/08)

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.