Văn hóa và sự hóa giải những hận thù
Trong lúc các nhà hoạt động chính trị của cả hai phía đều giữ những cái nhìn tưởng không gì lung lạc được của mình đối với “kẻ thù” thì các trí thức, bao gồm các nhà hoạt động văn hóa, các văn nghệ sĩ và cả các nhà khoa học đã bắt đầu quyết định những bước đi của họ mà trong con mắt của không ít người đó là những bước đi của chủ nghĩa lãng mạn chính trị.
Nhưng hơn ai hết, họ thấu hiểu rằng chỉ có văn hóa mới đủ quyền năng làm thay đổi thế giới và hóa giải những hận thù. Và họ, từng bước, từng bước một, bắt đầu xây dựng một con đường của văn hóa xuyên qua đại dương từ Việt Nam đến Mỹ. Những bước đi của họ không phải là những bước đi của chủ nghĩa lãng mạn chính trị mà là những hiển lộ của vẻ đẹp văn hóa và khát vọng hòa bình.
Tôi không biết chính xác đại sứ của văn hóa và hòa bình đầu tiên của Việt Nam đến Mỹ sau năm 1975 là ai. Nhưng người gây nên một cơn “địa chấn” là nhà văn Lê Lựu và nhà văn một thời ở phía bên kia – Ngụy Ngữ. Chuyến đi của Lê Lựu và Ngụy Ngữ đến Mỹ đã thay đổi không nhỏ cái nhìn của người Mỹ về một dân tộc từng là kẻ thù của họ, mặc dù, việc xin visa vào Mỹ của nhà văn Ngụy Ngữ gặp trắc trở.
Không ít những cuộc biểu tình chống đối và cả sự đe dọa tính mạng ở những nơi mà Lê Lựu cũng như các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ khác đến và cả những cuộc “biểu tình” trên một số tờ báo tiếng Việt ở Mỹ. Nhưng thời điểm đó, việc thay đổi cái nhìn của những người Mỹ chính gốc đối với đất nước Việt Nam là một điều hệ trọng giống như một sứ mệnh.
Sau năm 1975, có một điều mà hầu hết những người quan tâm lúc đó đều biết là rất nhiều những người Mỹ đến Việt Nam đều nằm trong một cái nhìn e ngại và hoài nghi của người Việt. CIA đấy. Một câu nói gần như là câu nói cửa miệng của nhiều người Việt Nam . Người ta không tin những người Mỹ đã ngang nhiên mang hàng chục vạn tấn bom dội lên đất nước này lại có thể có những nụ cười và cái bắt tay thân mật thực sự. Và cũng như thế đối với không ít người Mỹ, những người Việt Nam, đặc biệt là những người Việt Nam nói giọng Bắc đến Mỹ đều được coi là các chuyên gia tuyên truyền của Cộng sản.
Đã có lúc ở đâu đấy trong lòng nước Mỹ, người Mỹ đã báo động giả về sự xâm lăng của tư tưởng Cộng sản. Đây không phải là một sự nhầm lẫn. Đây là một chiến dịch chống cộng được hoạch định kỹ lưỡng. Và dù có một ai đó trong những người Mỹ đến Việt Namvà người Việt Nam đến Mỹ thực thi một thứ nhiệm vụ nào đó không thuộc về văn hóa thì sớm hay muộn đều thất bại. Văn hóa giống như sức mạnh của thời gian trong những bước ngoặt của sự đổi mùa. Nó thay đổi trời đất một cách kỳ lạ. Nó làm cho tất cả những gì thuộc về sự sống vụt hiện ra lộng lẫy mà không gì cản được.
Nhưng khi những vẻ đẹp và tính nhân văn của văn hóa của kẻ thù hé lộ thì một chuyển động lớn bắt đầu. Việc xuất hiện của các nhà văn hóa, các nghệ sĩ đặc biệt là nhà văn đã cuốn hút người Mỹ. Họ tiếp xúc với các sứ giả đến từ Việt Nam với mục đích xem những người của phía bên kia suy nghĩ gì về nước Mỹ và về thế giới. Sự xuất hiện của các nhà văn hóa cùng các văn nghệ sĩ đã mở ra những ô cửa đầu tiên để người Mỹ nhìn vào lâu đài văn hóa Việt Nam . Và đôi mắt ngờ vực và thù hận được bóc đi một phần lớn của lớp mộng dày đã che phủ cái nhìn của họ trong một thời gian dài.
Các trí thức Mỹ bắt đầu tìm cách chỉ cho công chúng Mỹ biết thực chất mảnh đất mà Chính phủ của họ tiến hành cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ XX để chống lại chứa đựng những gì? Ở đó chứa đựng một nền văn hóa lâu đời với khát vọng về hòa bình và chủ nghĩa nhân văn không bao giờ bị chết cho dù nền văn hóa ấy và khát vọng hòa bình ấy có lúc bị vùi dập và bị cầm tù trong những thăng trầm của lịch sử trên mảnh đất này.
Larry Rottman, một giáo sư văn học, một nhà thơ, một cựu binh đã từng đến Việt Namtổ chức lễ cưới bạc của ông, đã sáng tạo ra một lớp học đặc biệt về chiến tranh Việt Nam . Nhưng thực chất đó là lớp học về văn hóa và con người Việt Nam . Trong lớp học này, một sinh viên đóng vai một lính Mỹ và một sinh viên đóng vai một người lính Việt Nam . Cả hai đọc những cuốn nhật ký của những người lính của hai phía mà phía Mỹ thu giữ được trong thời gian chiến tranh. Họ đã ngạc nhiên nhận ra rằng: trong hầu hết những trang nhật ký đó, những người lính Việt Nam chỉ nói về quê hương, về người mẹ, về tình yêu và về giấc mơ trở về của họ khi chiến tranh kết thúc. Ở đó, không có sự sợ hãi và tuyệt vọng. Ở đó là một lòng tin bất diệt. Điều đó chỉ có thể được dựng lên bởi tinh thần văn hóa của một dân tộc lâu đời.
![]() |
| Các văn nghệ sĩ Việt Nam cùng nhà văn Mỹ danh tiếng Grace Paley |
Từ năm 1975 đến năm 1995, có khoảng 3000 đầu sách viết về Việt Nam đã được xuất bản tại Mỹ nhằm lý giải cuộc chiến tranh mà người Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam và lý giải đất nước Việt Nam. Việt Namkhông phải là một cuộc chiến tranh, Việt Nam là một đất nước – Đó là nhận xét của những người Mỹ sau một thời gian dài. Câu nói quá ư bình thường đó lại là một nhận thức quan trọng với người Mỹ. Sau nhận thức ấy, người Mỹ bắt đầu xem lại các chính sách của Chính phủ Mỹ đối với Việt Nam. Người Mỹ cho rằng: nếu họ hiểu được văn hóa Việt Nam thì có lẽ không có cuộc chiến tranh tàn khốc như vậy. Và nếu họ hiểu được văn hóa Việt Nam thì quan hệ của hai dân tộc này đã được xây dựng sớm hơn rất nhiều. Tất nhiên cuối cùng thì mọi hành xử lầm lạc của con người cũng được văn hóa cứu rỗi và được chỉ lối.
Bill Edhard, một lính Mỹ đã tham chiến ở Đà Nẵng, đã trở lại vùng đất này sau chiến tranh. Trong thời gian chiến tranh, ông thường đi tuần và lúc nào ông cũng thấy kinh sợ khi đến một khúc ngoặt của con đường. Ông không biết có gì ở đó và những gì sẽ xảy ra sau khúc ngoặt con đường đó. Và ông đã đến. Ông đã đi thật chậm qua khúc ngoặt con đường. Nhưng không có gì xảy ra. Chỉ có sự yên bình và những người dân đón ông như đón một người bạn. Ông trở về Mỹ và không còn mang những ám ảnh đen tối về mảnh đất này nữa.
Tôi đã đi cùng nhà văn Mỹ danh tiếng Phillip Caputo, Giải Sách Quốc gia Mỹ cho tiểu thuyết "Dư âm chiến tranh", đến vùng Thượng Đức, Quảng Nam, nơi Caputo đã tham chiến. Caputo tìm đến một làng bên bờ sông Túy Loan. Đó là một làng quê nhỏ nhưng đã từng là nỗi kinh hoàng đối với lính Mỹ. “Chúng tôi không bao giờ dám vào đó” – Caputo nói. Nhưng trong chuyến trở lại Việt Nam , Caputo muốn đến tận cái làng đó để xem trong đó có gì (?). Một gia đình nông dân đã làm cơm thết đãi chúng tôi. Họ đã làm thịt con gà ngon nhất đàn để đãi khách và dành chiếc giường tốt nhất cho vợ Caputo.
Đêm đó, chúng tôi ngủ lại làng. Caputo mắc võng giữa hai cái cột hiên nhà nằm ngủ. Sáng sau Caputo nói: “Đêm qua tôi nghe côn trùng kêu suốt đêm và lần đầu tiên tôi tin không có gì bất trắc xảy ra với tôi ở mảnh đất này nữa”. Caputo kể hồi còn đóng quân trong boongke trên một ngọn đồi Thượng Đức, những lính Mỹ rất sợ khi tiếng côn trùng trong đêm đang kêu chợt im bặt. Họ biết có người đang bò đến gần boongke. Đó là du kích hoặc quân giải phóng. Và bất cứ lúc nào những lính Mỹ trong boongke cũng có thể hứng trọn những quả lựu đạn bay vào. Chuyến đi của Caputo do Tạp chí Khám phá Địa cầucủa Mỹ tổ chức. Tạp chí này muốn Caputo viết về mảnh đất khốc liệt và đầy sợ hãi đối với lính Mỹ trong chiến tranh giờ như thế nào.
Cùng với việc viết về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, người Mỹ đã xuất bản những tác phẩm văn hóa, văn học Việt Nam tại Mỹ. Ngoài việc xuất bản các tác phẩm trên các tạp chí, trong các tuyển tập…, họ còn xuất bản các tác phẩm thơ Việt Nam bằng một hình thức có thể đến với bạn đọc dễ nhất và nhiều nhất. George Evans, nhà thơ cựu binh Mỹ, đã xuất bản thơ Việt Nam bằng một hình thức gọi là Wall Journal. Các bài thơ được in trên một trên một khổ giấy lớn có ảnh minh họa giống một tấm pano và dán ở những nơi có nhiều người qua lại nhất như sân bay, ga tàu, bến xe, trường học…
![]() |
| Nghệ sĩ rối nước Chu Lượng và nhà thơ Trần Tiến Dũng tại New York. |
Sau lần tổ chức cho nhà văn Lê Lựu và Ngụy Ngữ đến Mỹ, Trung tâm William Joiner, Trung tâm nghiên cứu hậu quả chiến tranh và xã hội của Đại học Massachusetts, đã hàng năm tổ chức cho các nhà văn Việt Nam đến Mỹ để giới thiệu tác phẩm và đất nước của mình. Những Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Duy, Nguyên Ngọc, những Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Trí Huân, Lê Minh Khuê, Chu Lai, Tô Nhuận Vỹ, những Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Thị Như Trang, Trần Văn Thủy, Huệ Chi, Phan Thị Vàng Anh, những Y Ban, Nguyễn Quyến, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ và bao nhà văn nhà thơ cùng các nhà nghiên cứu văn hóa, các giảng viên đại học, các họa sĩ, các nghệ sĩ biểu diễn và cả các nghiên cứu sinh… đã đến Mỹ trong thời gian chiến tranh lạnh giữa hai dân tộc như những đại sứ của văn hóa và hòa bình đích thực.
Trung tâm William Joiner đã tìm mọi cách cho các đại sứ của văn hóa và hòa bình Việt Nam tiếp cận rất nhiều tầng lớp công chúng Mỹ. Một số nhà vănViệt Nam đã từng được Văn phòng của Thượng nghị sĩ John Kerry tại Washington tiếp đón và diễn thuyết về văn hóa Việt Nam. Trong những năm tháng mà quan hệ Mỹ - Việt Namcăng thẳng, một tờ báo uy tín Mỹ đã gọi Trung tâm này là cánh tay nối dài của Cộng sản Việt Nam .
Nhưng hiện thực mà các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ Việt Nam mang đến cho công chúng Mỹ đã phá tan những chiến dịch bôi nhọ của một vài thế lực chống đối ở Mỹ và xóa đi sự ngờ vực và mối ác cảm vô cớ của nhiều người Mỹ. Sức mạnh của những hiện thực đó không gì ngoài những vẻ đẹp của văn hóa và thông điệp hòa bình của một dân tộc tưởng rằng chiến tranh đã có lúc làm cho hoang tàn. Một thế lực chính trị này có thể chống lại hoặc hủy diệt một thế lực chính trị kia. Nhưng không thế lực nào chống lại được văn hóa.
Rồi đến một ngày, các nhà viết sử sẽ phải dựng lại quan hệ Mỹ - Việt Nam trong toàn bộ lịch sử bang giao của hai dân tộc. Bởi đó là một lịch sử của máu, của sai lầm, của thù hận, của nhận thức, của tôn trọng, của những cảm xúc và ý thức về tương lai. Và trong lịch sử ấy, sự xuất hiện những đại sứ của văn hóa và hòa bình sẽ chiếm những chương quan trọng nhất. Bởi họ đã tìm ra chiếc chìa khóa để hóa giải những hận thù giữa hai dân tộc. Chiếc chìa khóa đó chính là văn hóa. Bởi chỉ văn hóa mới dựng lên đúng nhất và thẳm sâu tâm hồn nhất nhân cách của một dân tộc. Ngoài ra, không có gì có thể làm được.
Nguồn: vietimes.vietnamnet.vn (21/04/08)










