Văn hóa người Dao Họ đến Thủ đô
Nhà Dao Họ xưa và nay
Ông Bàn Văn Sang, nguyên cán bộ xã Sơn Hà giới thiệu: “Ngôi nhà nửa sàn nửa đất được giới thiệu tại Bảo tàng Dân tộc học từ năm 1999 theo kiểu ngôi nhà hiện thời của ông Bàn Văn Sấm ở thôn Khe Mụ. Ngôi nhà này do chính ông Sấm cùng với bảy người nữa dựng lên. Nhà được chia thành hai phần: phần trệt là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, bếp, khung cửi và tiếp khách; phần sàn làm bằng cây bương bổ đôi, đập dập làm giường ngủ của gia đình, nơi ăn uống khi có đám. Phần này rất quan trọng, thường khi dựng xong bốn cột cái, người ta làm sàn để lấy thăng bằng cho ngôi nhà”.
Đây là việc làm khó và mất nhiều thời gian. Cột nhà làm bằng lõi cây gỗ thọ, loại cây không bị mối mọt. Ngôi nhà này còn sử dụng một số cột đã được dân bản dùng vài chục năm, có cột đã 60 - 70 năm. Mái nhà lợp bằng nứa bổ đôi, sử dụng 5 - 6 năm sau mới phải lợp lại. Ông Sang cho biết thêm: “Trước đây, người Dao sống ở rừng già, nứa rất nhiều nên dễ kiếm nứa to lợp mái. Ngày nay, rừng già không còn nữa, nứa cũng ngày càng khan hiếm, cỏ gianh lại mọc nhiều nên chúng tôi dần dần chuyển sang lợp bằng cỏ gianh. Đến nay, nhiều nhà lại được lợp bằng ngói”.
Nói thêm về những thay đổi của ngôi nhà, ông Phạm Văn Dương, Trưởng phòng Trưng bày Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho biết: “Tập quán cư trú, sự thay đổi của môi trường sống, diện tích rừng ngày càng ít, ảnh hưởng của cuộc sống người Kinh là những yếu tố tác động trực tiếp đến cuộc sống của người Dao, đến không gian ngôi nhà. Vì thế, những ngôi nhà nửa sàn nửa đất đã chuyển hẳn sang những ngôi nhà trệt giống như người Kinh bây giờ và được người Dao yêu thích hơn vì nó phù hợp với cuộc sống hiện đại”.
Theo ông Dương, sự thay đổi không gian của những ngôi nhà truyền thống đã ảnh hưởng đến cách bố trí bên trong ngôi nhà. Xưa, phần sàn dùng để ngủ thì nay bà con đã dùng giường. Chỉ những không gian thiêng như nơi thờ cúng vẫn được giữ nguyên.
Những tập tục lưu truyền
Giới thiệu về văn hoá của dân tộc mình, ông Sang nhấn mạnh: “Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ta kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết”.
Trước đây đàn ông người Dao để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Nhưng nay họ đã để tóc giống người Kinh. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau, áo có hai loại, áo dài và áo ngắn. Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần, y phục kèm theo rất sặc sỡ. Họ không làm theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn màu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai. Phụ nữ Dao đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ thường treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Thầy Tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết, con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết; ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà; ngày thứ ba lễ cấp sắc.








