Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 22/01/2008 15:57 (GMT+7)

Văn hoá gia đình người Khơme ở Trà Vinh

Quan sát diện mạo văn hóa của người Khơme ở ĐBSCL, có thể thấy, dân tộc này từ xa xưa đã chịu ảnh hưởng sâu nặng nền văn hóa Ấn Độ, thông qua đạo Bàlamôn rồi đạo Phật. Phật giáo Tiểu Thừa có nguồn gốc từ Xiêm La mới dần dần ảnh hưởng rộng trong cộng đồng Khơme. Từ thế kỷ VIII trở đi, đạo Phật Tiểu Thừa là chỗ dựa tinh thần chủ yếu của người Khơme.

Gia đình và phum sóc đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giữ gìn và bảo lưu các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Khơme.

Gia đình người Khơme ở ĐBSCL nói chung, ở Trà Vinh nói riêng bao gồm 2 loại hình: gia đình hạt nhân và gia đình phức hợp hay gia đình không phân chia. Ở đây mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế và xã hội độc lập, có nhà ở riêng, có cơ sở kinh tế như: ruộng đất, trâu bò, dụng cụ sản xuất… Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình chủ yếu là giữa vợ và chồng, giữa bố mẹ và các con, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em. Những mối quan hệ này có những nét đặc thù, phản ánh đặc điểm trong quan hệ thân tộc của người Khơme, khác với quan hệ của các tộc người khác ở nước ta.

Trong gia đình Khơme, người chồng hay người cha là lực lượng chủ yếu sản xuất nông nghiệp và giao dịch với bên ngoài, tiếp đón khách. Tất cả các công việc còn lại như nội trợ, chăm sóc, dạy dỗ con cái và quản lý chi tiêu trong gia đình thuộc về người vợ. Những công việc hệ trọng trong gia đình như mua bán, sắm sửa vật dụng quý giá, đắt tiền và cưới vợ gả chồng cho con cái, làm phước vào chùa… đều có sự thống nhất giữa vợ và chồng. Nhìn chung, quan hệ giữa vợ và chồng người Khơme khá bình đẳng, không khí gia đình hòa thuận, ít khi có xung đột…

Sự bình đẳng này còn thể hiện ở chế độ sở hữu tài sản. Trong gia đình, ngoài tài sản chung do công sức hai vợ chồng làm ra trong thời gian chung sống thì vợ và chồng đều có quyền sở hữu tài sản riêng. Khi quan hệ vợ chồng lỡ bị tan rã, ly dị, thì tài sản riêng của người nào người đó giữ lại, còn tài sản chung thì chia đều.

Trong xã hội, người đàn bà cũng được quý trọng. Ngay cả khi Phật giáo Khơme, về quy chế, không chấp nhận sự tu hành của nữ giới, thì trong thực tế người phụ nữ Khơme vẫn có thể thực hiện việc tu hành bằng cách tu tại gia và hằng tháng vẫn được đến chùa trong một số ngày lễ Phật. Người đàn ông lấy vợ lẽ phải được phép của người vợ cả. Trong cuộc sống gia đình, người phụ nữ rất chịu khó, chăm sóc chồng con chu đáo… đây là một đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Khơme. Thế nhưng nếu trong cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, họ cũng có thể tiến hành ly dị dễ dàng mà không gặp phải những khó khăn ràng buộc quá lớn.

Quan hệ trong gia đình người Khơme có sự kỷ cương nề nếp, tôn ti trật tự rõ ràng, cha mẹ thật sự có quyền đối với con cái. Tuy nhiên, trong sinh hoạt hằng ngày, cũng như khi giải quyết những công việc quan trọng, họ thường có mối thông cảm lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái. Đối với con cái, cha mẹ không có phân biệt đối xử trai hay gái, trưởng hay thứ, con nuôi hay con đẻ. Tương tự như vậy, nàng dâu và con rể trong gia đình được đối xử ngang nhau, anh em bên vợ, anh em bên chồng không có sự phân biệt trong quan hệ. Trong việc thừa kế tài sản, cha mẹ chia đều cho các con.

Quan niệm dòng họ của người Khơme khác hẳn với các tộc người khác trong vùng, không hẳn là phụ hệ hay mẫu hệ. Trong cách tính dòng họ, một cá nhân không coi mình thuộc dòng họ bên cha hay bên mẹ. Do đó, ở người Khơme không có khái niệm về tộc hay họ tính theo một phía cha hoặc mẹ, trong quan hệ họ hàng không có sự phân biệt giữa bên cha và bên mẹ, không có khái niệm về bên nội và bên ngoại.

Tuy nhiên, do sự áp đặt cưỡng bức của chính quyền phong kiến thực dân, mặt khác, do chịu ảnh hưởng của hai tộc Việt, Hoa là những cư dân theo chế độ phụ hệ, nên người Khơme thường đặt tên con theo họ cha khi làm giấy khai sinh và kê khai hộ khẩu công dân. Nhưng trong quan hệ xã hội truyền thống của người Khơme thể hiện trong quan hệ dòng họ, hôn nhân và gia đình thì tên họ chỉ đơn thuần là một hình thức pháp lý, chưa theo phụ hệ như người Việt, người Hoa hoặc mẫu hệ như người Chăm.

Đối với người Khơme, gia đình là một thành tố cấu thành của phum với quan niệm về phạm vi thân tộc rất rộng, nên hôn nhân không chỉ là việc hệ trọng của một người mà còn là vấn đề có ý nghĩa rất lớn với cấu trúc thân tộc trong phum. Những hình thức hôn nhân giữa các anh em họ chéo và anh em họ song song ở thế hệ thứ nhất, hôn nhân giữa anh em ở thế hệ thứ hai, cũng như hiện tượng hôn nhân anh em chồng và chị em vợ đã làm cho sự liên kết, quan hệ thân thuộc giữa các thành viên trong phum Khơme thuộc về cả hai phía cha và mẹ. Nguyên tắc này củng cố mối quan hệ tình cảm, kinh tế giữa họ với nhau, ngoài ra còn nhằm mục đích bảo vệ tài sản của gia đình không thất thoát ra ngoài.

Người Khơme thường cư trú trên các giồng, khai thác những vùng đất thấp phía trước và sau giồng, từng bước biến chúng thành đồng ruộng. Những cụm dân cư rời nhỏ gọn là phum, nhiều phum hợp thành sóc hoặc lớn hơn là xã xen kẽ với các ấp, xã của người Việt và người Hoa. Hình thái cư trú sau hôn nhân của người Khơme do tính chất xã hội, quan hệ trong việc tính huyết thống và tính chất của gia đình quy định. Đa số nhà nghiên cứu cho rằng hôn nhân cư trú bên vợ là hiện tượng phổ biến ở người Khơme. Tác giả Lâm Thanh Tòng nhận xét: “Đặc điểm phổ biến của người Khơme trong hôn nhân là cư trú phía vợ, đặc điểm đó nổi bật lên đậm nét trong từng phum. Tức là chàng rể của mỗi gia đình khi ra ở riêng thì cất nhà ở sát ngay bên cạnh bố mẹ vợ trong cùng một phum. Quá trình đó lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ kia đưa đến tình hình thành viên trong một phum thường là bà con của nhau theo dòng nữ”. Tác giả Đỗ Khắc Tụng thì cho rằng: "Mặc dù không có một quy định bắt buộc nào trong phong tục hay quy tắc văn hóa, trong thực tế cách cư trú bên vợ thường phổ biến hơn và được ưa thích hơn. Trong trường hợp này, hoặc đôi vợ chồng ở chung với gia đình cha mẹ vợ trong một căn nhà, hoặc họ cất nhà ở gần quanh nhà cha mẹ vợ nghĩa là trong chu vi của phum bên vợ. Đây là một tập tục cư trú còn đậm nét của người Khơme ĐBSCL, và phải chăng đó là tàn dư của một chế độ cư trú theo mẫu hệ xưa kia".

Giã cốm Theo truyền thống văn hóa nông nghiệp, gia đình người Khơme Trà Vinh có nhiều thế hệ cùng chung sống trong một mái nhà. Trong giai đoạn hiện nay, mô hình trên dần dần cũng chuyển biến theo sự phát triển của xã hội. Chúng ta đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì "chất công nghiệp" ngày càng được tăng lên đồng thời "chất nông nghiệp" cũng giảm đi, vì thế mà gia đình truyền thống cũng buộc phải thay đổi theo hướng giảm về số lượng các thế hệ cùng sống chung trong một mái nhà. Như vậy, vai trò cá nhân cũng thay đổi, được đề cao hơn, đồng thời, ở một khía cạnh nào đó, yếu tố cộng đồng có phần giảm đi.

Trước thực trạng đó, trong quá trình thực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa - nhất là vùng có đông đồng bào dân tộc Khơme sinh sống - Ban chỉ đạo tỉnh Trà Vinh đã rất chú trọng đến việc xây dựng con người, tạo điều kiện để cá nhân phát triển toàn diện, bởi xét cho cùng, mọi hoạt động của xã hội đều phải thông qua những con người cụ thể với những khả năng, năng lực, tính cách cụ thể. Những cá nhân phát triển tốt sẽ góp phần đưa gia đình trở thành gia đình văn hóa mẫu mực với những tiêu chuẩn như: Gia đình ấm no, hòa thuận tiến bộ, khỏe mạnh và hạnh phúc; thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, thực hiện kế hoạch hóa gia đình; đoàn kết tương trợ trong cộng đồng dân cư. Hơn nữa, gia đình, nhà trường, xã hội (phum, sóc, ấp, khóm) là những môi trường để các cá nhân hình thành và phát triển nhân cách. Sự tương thân, tương ái giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn tạo nên môi trường xã hội tốt đẹp trong làng trong xóm, tạo nên bộ mặt nông thôn đổi mới, hạn chế các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh chính trị của địa phương.

Bên cạnh việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cổ truyền Khơme thì ở một số mặt, một vài mối quan hệ trong sinh hoạt gia đình, dòng họ, phum sóc của người Khơme cũng có những thay đổi cho phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, ngày nay, hình thức cư trú bên nhà vợ sau hôn nhân không còn là điều bắt buộc, đôi vợ chồng mới cưới có quyền tự do lựa chọn nơi cư trú hoặc bên vợ hoặc bên chồng tùy theo sự ưa thích, địa vị xã hội, điều kiện kinh tế của cha mẹ đôi bên. Điều này phản ánh mối quan hệ thân tộc không hẳn là phụ hệ hay mẫu hệ của người Khơme, đồng thời nó còn mở rộng mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình với cộng đồng xã hội. Các cá nhân, gia đình không còn chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình, dòng họ, thân tộc và phum sóc như trước đây mà đã có thể chủ động mở rộng việc giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của gia đình và địa phương, giảm dần sự chênh lệch mức hưởng thụ về văn hóa và mức sống kinh tế của người dân giữa các vùng (thành thị với nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống...), góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Giã cốm

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.