Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 28/01/2008 14:45 (GMT+7)

Văn hóa dân gian các làng ven biển

Một khối lượng tư liệu phong phú bao gồm văn học dân gian, di tích, lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, tri thức dân gian, nghề thủ công truyền thống... đã được thu thập. Một số công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian các làng ven biển được hình thành trên cơ sở nguồn tư liệu điều tra sưu tầm đã mở ra hướng đi mới trong việc nghiên cứu bản sắc dân tộc qua văn hóa cư dân vùng biển.

1. Sáng tác văn học dân gian của cư dân ven biển gồm nhiều thể loại khác nhau như truyền thuyết, huyền thoại, cổ tích, ca dao, hò, vè, tục ngữ... vừa phong phú về thể loại vừa giàu có về trữ lượng. Văn học dân gian phản ánh khá rõ đặc tính con người và cuộc sống lao động từ bao đời của người dân vùng biển nước ta. Nhiều huyền thoại, truyền thuyết liên quan tới các vị thần và nhân vật lịch sử, các địa danh và thắng cảnh của mỗi làng, mỗi vùng đất phổ biến khắp dải đất ven biển. Ngoài các huyền thoại, truyền thuyết về Cá Ông, thần Độc Cước, Dương Không Lộ, Long Vương, Thủy thần và Tứ vị Thánh Nương... thì truyền thuyết lịch sử chiếm một khối lượng lớn trong hệ thống truyện kể dân gian. Đó là những nhân vật lịch sử mà chiến công chống giặc ngoại xâm gắn với từng địa danh, từng dòng sông, cửa biển... còn mãi lưu truyền trong dân gian. Tên tuổi của Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư cùng các tướng lĩnh đời Trần, Quận He - Nguyễn Hữu Cầu... mãi trường tồn với thời gian qua từng chuyện kể vừa thi vị vừa hào hùng gắn với biết bao địa danh ở vùng biển phía Bắc của Tổ quốc như Vân Đồn, Trà Cổ, Quan Lạn...

Truyện kể và vè phản ánh quá trình hình thành làng, đất đai, nguồn gốc cư dân và nghề nghiệp của mỗi làng quê. Truyền thuyết về những người "khai sơn phá thạch" mở ấp lập làng về các dòng họ đầu tiên đến tụ cư làm ăn sinh sống góp công góp sức biến vùng đất hoang trở thành làng mạc trù phú, mở mang các ngành nghề như đóng thuyền, đan lưới, đi biển, làm muối, dệt chiếu... khá phổ biến ở nhiều nơi. Đó là sự tích sáu ông tổ từ Đồ Sơn ra khai hoang vùng Trà Cổ ở Quảng Ninh và trở thành sáu vị Thành hoàng làng. Đó là sự tích ông tổ họ Trần từ vùng Kinh Bắc vào khai khẩn ở Kẻ Mom (Thanh Hóa)...

Ca dao, dân ca, hò, tục ngữ... mang sắc thái riêng của những người ngư dân quen vào lộng ra khơi, ngợi ca cảnh đẹp và niềm tự hào về quê hương, nghề nghiệp và cuộc sống của người dân lao động.

Người dân Kẻ Mom (Thanh Hóa) tự hào với nghề nghiệp từ bao đời nay của quê hương mình:

- Nhà ta nghề biển, nghề sông
Lặng thì tôm cá đầy trong đầy ngoài

- Nghề anh nghề lộng nghề khơi
Lấy em về khuya sớm vác bơi, vác chèo.
Còn người dân Nhượng Bạn (Hà Tĩnh) ngợi ca một cách tự hào:
Ai về Nhượng Bạn mà coi
Mù sương lắm cá, hồng trời lắm tôm...

Cư dân ven biển nước ta còn lưu giữ nhiều hình thức ca hát dân gian như hát cửa đình (hát nhà tơ), hát đối đáp nam nữ, hát đúm của người Đồ Sơn, Kẻ Mom (Thanh Hóa). Ngoài ra còn nhiều hình thức sinh hoạt dân gian khác gắn với nghề nghiệp đánh bắt hải sản của người dân vùng biển.

2. Sống lênh đênh trên biển cả mênh mông, đối mặt với thiên tai, vật lộn với bão to, sóng lớn, ngư dân đã tích luỹ vốn tri thức khá phong phú về biển, về nghề nghiệp. Những kinh nghiệm đúc kết từ bao đời đó không chỉ mang lại cho họ bát cơm manh áo mà còn là bảo bối giúp họ vượt qua bao hiểm nguy để bảo tồn và duy trì cuộc sống.

Nhiều kinh nghiệm là kiến thức tổng hợp được tích luỹ, lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, thấm sâu vào trí nhớ, trở thành lối ứng xử linh hoạt trước thiên nhiên. Những thay đổi bất thường của thời tiết, biểu hiện qua màu sắc đám mây, ráng trời, âm thanh sóng vỗ, gió thổi, dòng nước chảy, màu nước, bọt sóng nước, kể cả khi trời trong trăng tỏ hay một vài cánh chim bay về rừng... cung cấp cho người ngư dân những phán đoán khá chính xác về những điều sắp xảy ra để tránh những rủi ro:

Trời trong trăng tỏ
Nước đục ngàu ngàu
Cha con bảo nhau
Chèo mau cập bến.

Họ nhắc nhau khi có hiện tượng thời tiết khác lạ:

Bạn chèo thợ lái bảo nhau
Mống tây chớp lạch quay mau mà về.

Quan sát thiên nhiên còn giúp cho việc xác định tọa độ, phương hướng ra vào cửa lạch để tránh va vào đá ngầm, mắc cạn:

Đi ra trông sao
Đi vào trông rú.

Còn biết bao nhiều kinh nghiệm như nghe tiếng rung kêu, dựa vào tuần trăng, theo con nước, luồng hải lưu đến việc lợi dụng những thời điểm luồng cá di cư để đánh bắt cho thu hoạch cao. Và, hầu như ở làng nào cũng có "cuốn lịch" hàng năm với công cụ nào đánh bắt loại cá gì, lịch những ngày nước sinh, nước cường từng tháng, nhật trình đi biển là cẩm nang vào Nam ra Bắc cho đến kinh nghiệm về ăn uống, dưỡng sinh, trị bệnh từ những hải vật quý của vùng biển quê hương.

3. Kiến trúc, điêu khắc dân gian ở các làng biển có những nét riêng được thể hiện qua các di tích lịch sử - văn hóa như đình, chùa, đền, miếu... Di tích như là những hiện vật minh chứng cho sức mạnh, sự trường tồn, trí tuệ và là biểu tượng của mỗi làng quê. Có thể nói hầu như làng biển nào cũng có những công trình kiến trúc kết tinh sự tài hoa khéo léo của người nghệ nhân nơi "đầu sóng ngọn gió". Làng Trà Cổ (Quảng Ninh) có ngôi đình đẹp, kiến trúc đường bệ vào loại nhất nhì trong các ngôi đình cổ Việt Nam . Ở Đồ Sơn có Đền Bà Đế, Đền Nghè thờ thần Điểm Tước, Đình Ngọc... tạo thành quần thể di tích tín ngưỡng văn hóa mang dấu ấn riêng của một vùng non nước. Vùng biển Sầm Sơn có đền thờ Độc Cước, đền thờ Thánh Mẫu, đền thờ Bà Triệu... tạo cho nơi đây nét cổ kính làm tăng sức hấp dẫn của một trung tâm nghỉ ngơi, du lịch nổi tiếng ở nước ta.

Đền Cờn (Nghệ An), trung tâm thờ Tứ vị Thánh Nương là một công trình văn hóa với kiến trúc và điêu khắc độc đáo tiêu biểu cho tài nghệ của người dân nơi đây. Đền được xếp vào hàng đầu trong bốn di tích nổi tiếng ở xứ Nghệ: "Nhất Cờn, nhì Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng". Chùa Yên Lạc ở làng Nhượng Bạn (Hà Tĩnh) là một ngôi chùa cổ kính, còn lưu giữ nhiều hiện vật quý, trong đó có bộ tranh Thập điện thể hiện nét bút phóng túng tài hoa và giàu trí tưởng tượng của người nghệ nhân với chủ đề khuyến thiện, trừng ác. Đình Thuận An (Thừa Thiên - Huế) với kiến trúc và trang trí ghép gốm màu, tiêu biểu cho hình thức trang trí kiến trúc của văn hóa Huế thế kỉ XIX...

Tuy nhiên, do phải đối mặt và hứng chịu mưa gió, bão tố trực tiếp từ biển vào, lại phải chịu sự tàn phá của bom đạn qua các cuộc chiến tranh và sự thiếu ý thức một thời của con người nên nhiều công trình kiến trúc, điêu khắc bị hư hỏng, bị tàn phá nặng nề. Việc điều tra nghiên cứu góp phần cung cấp những tư liệu cần thiết để Nhà nước có kế hoạch phục hồi, tôn tạo hoặc xây dựng lại một số công trình kiến trúc tiêu biểu, nhằm lưu giữ cho thế hệ mai sau di sản văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc.

4. Do điều kiện sống, lao động của ngư dân trong môi trường biển cả mênh mông đầy những hiểm nguy nên tôn giáo tín ngưỡng tạo cho họ niềm tin trước sự bao la hùng vĩ của thiên nhiên. Trong tín ngưỡng dân gian, phổ biến nhất là việc thờ cúng các vị tiền hiền, những người có công trong việc tìm đất, định cư khai phá đất đai, mở mang nghề nghiệp. Bên cạnh đó là việc thờ các nhân vật lịch sử, như vùng biển Quảng Ninh thờ Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, vùng biển Đồ Sơn thờ Nguyễn Hữu Cầu, vùng biển xứ Nghệ thờ Lê Khôi, Nguyễn Thị Bích Châu... Nhưng đáng chú ý nhất là việc phụng thờ Tứ vị Thánh Nương, thờ Cá Ông, thờ thần Độc Cước là hình thức tín ngưỡng đặc trưng của ngư dân ven biển nước ta.

Tục thờ Tứ vị Thánh Nương khá phổ biến ở nhiều làng Việt, nhất là vùng ven biển Bắc Trung Bộ, thậm chí một số làng ven sông lớn nằm sâu trong đồng bằng cũng có tục thờ này. Tuy nhiên, trung tâm thờ Tứ vị Thánh Nương là ở Đền Cờn. Tín ngưỡng thờ Tứ vị Thánh Nương là hình thức tín ngưỡng dân gian có vai trò quan trọng trong tâm linh của người Việt.

Tục thờ Cá Ông (Cá Voi) cũng khá phổ biến trong cộng đồng cư dân ven biển từ Thanh Hóa đến Kiên Giang. Trong dân gian vùng ven biển vẫn truyền tụng sự tích Cá Voi, hiện thân của Phật Bà Quan Âm chuyên cứu vớt những ngư dân bị nạn trên biển. Do đó ngư dân đã dùng nhiều danh xưng tôn kính như Ông Cậu, Ông Lớn, Ông Khơi, Ông Lộng, Ông Chuông, Ông Máng, Đức Ngự, Đông Nam Hải, Nam Hải Đại tướng quân... Nhiều lễ hội và sinh hoạt văn hóa dân gian liên quan đến Cá Ông được tổ chức rất sôi nổi như lễ nghinh Ông có múa hát Bả trạo. Lối hát Bả trạo thường được tổ chức vào lễ kị nhật Cá Ông, thậm chí ngay cả trong tang lễ Cá Ông. Việc phụng thờ Cá ông đã trở thành một hình thức tín ngưỡng dân gian đặc sắc, tích hợp các giá trị văn hóa nghệ thuật của từng địa phương và đã trở thành một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong đời sống người ngư dân ở nước ta.

Lễ hội của ngư dân cũng rất phong phú, đa dạng mang đậm sắc thái riêng của mỗi địa phương. Vùng biển Quảng Ninh có lễ hội đình Trà Cổ gắn với lục vị tiền hiền có công mở đất lập làng ở vùng địa đầu Tổ quốc. Lễ hội ở Quan Lạn thể hiện sự kết hợp giữa lễ hội của cư dân nông nghiệp và ngư dân, mở vào dịp tháng 6 âm lịch mang đậm tính lịch sử liên quan đến các danh tướng đời Trần.

Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, độc đáo và sôi nổi lưu giữ dấu vết văn hóa cổ xưa.

Lễ hội Đền Cờn gắn với nhiều phong tục cổ như hội bơi thuyền vào tháng chạp, hội rước thuyền ngự du xuân vào dịp Tết Nguyên đán, lễ tế trâu, tế thần, tế bánh từ mồng 4 đến mồng 7 tết. Nhưng hấp dẫn nhất là tục chạy ói vào rằng tháng giêng, tái hiện sự tích tranh giành nhau cây gỗ thần giữa hai làng Phương Cần và Phú Lương. Ở Nhượng Bạn trong lễ hội có tổ chức nghi lễ cứu rỗi vong linh những người gặp nạn trên biển, mang đậm ý nghĩa nhân đạo. Ngoài ra ở đây còn có hội đua thuyền diễn ra vào dịp rằm tháng 6 âm lịch rất sôi nổi.

Lễ hội ở Thuận An diễn ra vào dịp tháng chạp với nghi lễ và diễn xướng Cầu ngư rất náo nhiệt, tiêu biểu và đặc sắc của một lễ hội miền Trung.

5. Nghề thủ công truyền thống ở các làng ven biển cũng rất phong phú.v.v... Nghề đóng thuyền tồn tại ở nhiều làng như Trà Cổ, Phương Cần, Nhượng Bạn, Cảnh Dương... Mỗi làng có những dòng họ lưu giữ bí quyết nghề nghiệp, đời này truyền cho đời khác về nghề thủ công truyền thống quý báu này.

Các nghề khác như đan lưới, lưới giã, lưới rút, lưới rê, lưới ruốc, lưới chồng, lưới rùng; nghề làm câu vặt, câu đăng, câu rà, nghề làm bóng cá sủ, bóng mực, bóng rạn... cũng khá phát triển.

Nghề chế biến hải sản, làm khô cá, khô mực, làm nước mắm, mắm cá, mắm ruốc... với kĩ thuật truyền thống lâu đời đã tạo nên những đặc sản nổi tiếng riêng của mỗi làng mỗi vùng. Đây là điểm mạnh cần được đầu tư khai thác để phát triển kinh tế nhằm tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho người lao động, thu hút khách du lịch.

Trong những năm qua, việc điều tra sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân gian các làng ven biển đã được nhiều nhà nghiên cứu ở Trung ương và địa phương quan tâm tạo nên những kết quả rất đáng ghi nhận. Trong những năm tới, việc sưu tầm, nghiên cứu cần đẩy mạnh hơn nữa nhằm giữ gìn, khai thác và phát huy các giá trị của văn hóa truyền thống góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước .

Nguồn: T/C Văn hoá - Nghệ thuật số 12/05

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.