Vai trò đường huyết sau ăn trên bệnh nhân đái tháo đường
Hiện nay, ở Việt Nam ước tính có khoảng hơn 4,5 triệu người mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) với xu hướng trẻ hoá bệnh nhân và tập trung nhiều ở thành thị. Theo PGS. TS Nguyễn Thy Khuê: “ Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ bệnh đía tháo đường tăng nhanh nhất thế giới, tăng gấp đôi mỗi 10 năm, theo điều tra cơ bản tại TP. HCM, bệnh đái tháo đường chiếm gần 7% số người được khảo sát, trong đó có 40% không biết mình bị đái tháo đường. Người bệnh ĐTĐ chết vì bệnh tim mạch nhiều gấp hai tới bốn lần số người không bị đái tháo đường, phụ nữ có nguy cơ tử vong cao hơn nam giới. Trong những nghiên cứu thực hiện trên thế giới và tại TP. HCM, tỷ lệ tăng huyết áp trên bệnh nhân ĐTĐ rất cao, chiếm từ 50 – 70%” .
Mặc dù số lượng bệnh nhân đái tháo đường tăng cao, nhưng số lượng phát hiện bệnh rất thấp và thường phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, có hơn 60% bệnh nhân khi phát hiện bệnh đã có các biến chứng.
Các biến chứng của bệnh đái tháo đường bao gồm:
- Biến chứng mạch máu lớngồm có bệnh động mạch vành, bệnh mạch máu não, bệnh mạch máu ngoại vi: do tổn thương ở hệ thần kinh tự chủ nên giảm triệu chứng đau ngực ở bệnh nhân động mạch vành, vì thế không phát hiện sớm bệnh, nguy cơ tử vong cao.
- Biến chứng mạch máu nhỏgồm có: bệnh võng mạc mắt, cả hai thể tăng sinh và không tăng sinh đều dẫn tới mù. Bệnh thần kinh gây đau và bệnh thần kinh không gây đau nhưng mất cảm giác, do tổn thương thần kinh ngoại vi và thần kinh tự chủ, gây hậu quả loét và nhiễm trùng bàn chân, loạn nhịp tim và rối loạn cương dương. Bệnh nhân đưa tới suy thận giai đoạn cuối cần lọc thận. Bệnh thận trên bệnh nhân đái tháo đường thường không triệu chứng cho đến khi khá nặng (creatinin máu 400 – 500 micromol/L) mới xuất hiện thiếu máu, ứ nước và suy tim. Phát hiện sớm bằng cách thường xuyên tìm protein niệu hoặc albumin niệu vi lượng.
Phòng ngừa và điều trị tất cả các biến chứng trên đều có chung một điểm là kiểm soát chặt đường huyết.
Theo GS. Oliver Schnell, Đại học Y và Khoa học Ludwig – Maximilians – Munic, Đức: kiểm soát đường máu sau ăn rất quan trọng trong việc quản lý rối loạn đường máu, phòng ngừa tiền ĐTĐ sang ĐTĐ, phòng ngừa những biến chứng của ĐTĐ, đặc biệt là về tim mạch, 2/3 các bệnh nhân ĐTĐ chết do các biến chứng về tim mạch.
Theo hướng dẫn mới nhất của Hiệp hội nghiên cứu Đái tháo đường Mỹ, đối với bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nên quản lý tốt 3 chỉ số là: Đường huyết lúc đói dưới 110 mg/dL, đường huyết 2 giờ sau ăn dưới 140 ml/dL, HbA1c dưới 6,5%. Trong đó chỉ số HbA1c đóng vai trò quan trọng vì nó cho biết việc kiểm soát đường huyết thời gian dài có tốt hay không và thể hiện tiên lượng bệnh. Một nghiên cứu cho thấy có đến gần 80% bệnh nhân đái tháo đường không kiểm soát tốt chỉ số HbA1c (HbA1c trên 7%).
Chỉ số đường huyết sau ăn đóng vai trò quan trọng trong việc đưa chỉ số HbA1c về với mức chuẩn, dưới 6,5%. Theo Monnier và cộng sự: muốn kéo chỉ số HbA1c xuống dưới 7,3% thì vai trò đường huyết sau ăn chiếm đến 70%.
Những bệnh nhân đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucose (tiền đái tháo đường) đều có đỉnh đường huyết sau ăn cao, do sự hấp thu đường ào ạt vào máu trong vòng 2 giờ sau bữa ăn, và chính đỉnh đường huyết sau ăn này gây ra những biến chứng tim và mạch máu trên bệnh nhân đái tháo đường.
PGS. TS. Nguyễn Thy Khuê kết luận: “Các yếu tố nguy cơ biến chứng tim mạch và tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường có liên quan đến tăng đường huyết sau ăn. Để phòng ngừa bệnh cần phải thay đổi lối sống, ăn uống hợp lý, luyện tập đầy đủ và đúng cách. Khi đã bị bệnh đái tháo đường rồi, để ngăn chặn sự xuất hiện và diễn tiến của các biến chứng, vấn đề điều trị đa yếu tố là quan trọng: kiểm soát đường huyết, kiểm soát huyết áp, kiểm soát rối loạn chuyển hoá lipid, trong đó thuốc acarbose có vai trò quan trọng trong suốt quá trình từ phòng ngừa đến điều trị bệnh”.








