Vài nét về lễ cấp sắc – dân tộc Dao Yên Bái
Dân tộc Dao cho rằng chỉ những người có pháp danh, tức là phải trải qua lễ cấp sắc thì mới được người Dao coi là trưởng thành và do đó mới được phép tiến hành các công việc liên quan đến tập quán Dao.
Những cuộc đi điền dã, thực tế, nghiên cứu cho chúng tôi thấy, chỉ khi nào người đàn ông Dao đã được làm lễ cấp sắc thì mới có một vị thế nhất định ở trong cộng đồng, dòng họ, gia đình…
Các bước của lễ này được tiến hành như sau:
Khi làm lễ cho người thành niên, bố mẹ phải đưa con đến gặp ông già làng để xem giờ và tuổi cho người được cấp sắc, xem xong già làng sẽ thông báo cho dân làng biết và đến dự. Tiếp đến, gia đình phải mời hai ông thầy (thầy cúng, thầy múa…); lễ vật đến mời gồm 1 con gà trống, vàng hương, rượu để các thầy làm lễ xin phép thần linh và tổ tiên của thầy cho phép được đi làm lễ cấp sắc. Sau đó, lễ cấp sắc được tiến hành:
Đoàn thầy múa gồm 7 người; đi đầu là thầy cả tay cầm kiếm phép, hai thầy phụ đi sau, mặc áo khoác dài màu đỏ, thắt đai, tay cầm hai tua lụa xanh đỏ, số còn lại đi sau cùng mang vật dụng để làm lễ như: nìa dồ (trống tàng sành) được làm bằng sứ, hình thuôn dài, chia ra làm hai khoang (to, nhỏ) bịt da thú ở hai đầu, thắt nhỏ ở giữa, một đôi thanh la, não bạt và một số vật dụng khác…
Đoàn thầy Tạo (thầy cúng) gồm 5 người, đi đầu là thầy Tạo, tay cầm kiếm phép, đầu đội khăn xếp, áo cà sa của đạo phật, hoa văn trên áo hình con rồng, rắn, mây, gió, cá… Các thầy phụ đi sau mặc đơn giản hơn, áo ngoài có hình con rồng, phía dưới là hình hai con cá, phía sau áo cũng có hình con rồng, vật dụng mang theo gồm hai đôi chũm chọe và thanh la, não bạt và một trống nhổ bằng gỗ, bịt một đầu bằng da. Đoàn thầy này đi tới một bãi đất bằng phẳng ở đầu làng để làm lễ khấn thần làng (thổ công, thổ địa); mỗi thầy thắp ba nén hương và khấn, đại ý: Chúng tôi là thầy cúng, nhà có việc, chúng tôi đến giúp; mong thổ công, thổ địa cho phép chúng tôi vào làm việc.
Khấn xong các thầy đốt giấy vàng mã, tiền ma… Các thầy đi sau đánh thanh la, não bạt, đại ý báo cho thổ công, thổ địa biết và cho phép các thầy được vào làng làm việc, sau đó, hai đoàn hướng về gia đình người tổ chức cấp sắc.
Đoàn thầy múa đến trước và khi làm xong các thủ tục thì về sau đoàn thầy Tạo. Đoàn thầy Tạo đến sau nhưng khi xong thủ tục lại về trước đoàn thầy múa (đó là quy định của người Dao).
Khi đến nhà, thầy Tạo thắp ba nén hương ở chân cầu thang nhà sàn, lạy 3 lạy sau đó cầm kiếm phép chỉ lên nóc nhà, khấn xin phép ma nhà cho phép vào nhà làm lễ cấp sắc. Xong các thủ tục xin phép thì được vào nhà. Hai thầy phụ múa của hai đoàn mặc áo dái đỏ, thắt đai giữa, đầu đội khăn trắng có đeo ảnh thần linh, tay cầm dải lụa xanh, đỏ múa trước bàn thờ tổ tiên của gia đình để báo cho tổ tiên biết biết các thầy đang làm việc. Sau khi đã làm xong tất thảy các việc đó thì các thầy lập bàn thờ cấp sắc.
Gian thờ của thầy múa: Trên mặt chính bàn thờ treo 7 bức tranh về các thần và âm binh phụ trách việc lập tịch gồm các thần quan âm, thần sấm, thần mưa v.v… Trên ban thờ đặt 3 chén rượu, có 3 bát hương quấn giấy đỏ vàng ở mặt ngoài, gạo 1 bát và 2 thanh âm dương bằng sừng, một xâu tiền xu (với dân tộc Dao, tiền xu là không thể thiếu cho nên phải chuẩn bị sẵn), một đĩa gừng, 1 đèn dầu và một bát gạo, trong bát gạo cắm một chiếc ô giấy (chiếc ô này là để hầu và thờ bà Thánh Mẫu, dưới bàn thờ có một tờ sớ mầu vàng trong đó ghi tên tuổi đầy đủ của người được cấp sắc. Trên trần nhà được đặt hai cây sào, một tấm băng vải trắng dài được vắt ngang qua đó, trên tấm băng đính 9 bức sớ có màu xanh, đỏ ghi rõ nội dung công việc diễn ra trong 3 ngày. Bài trí hai bên gian thờ, bên trái có bức tranh một trai một gái đang chèo thuyền, bên phải là bức tranh một chàng trai chèo thuyền.
Gian thờ của thầy Tạo giống như của thầy Cả (thầy múa), chỉ khác một số điểm như: không có bát gạo cắm ô để thờ thành Mẫu, chỉ có treo 3 tờ sớ ghi nội dung 3 ngày cấp sắc của thầy Tạo.
Khi vào lễ, người được cấp sắc và mọi người trong gia đình cũng như thầy Tạo - thầy Múa đều phải ăn chay: ăn cơm nếp trộn mật, khi ăn phải xin phép các thần, còn tất cả mọi người đến dự đều phải ăn cơm rau hoặc cháo gừng. Thầy Tạo và thầy Cả (múa) thắp 3 nén hương để xin phép thánh thần, tổ tiên cho phép sử dụng bàn thờ và phù hộ cho người được cấp sắc. Sau khi các thủ tục hoàn tất, các thầy cầu khấn để mời các thần về dự lễ. Thầy Cả (múa) thắp ba nén hương rồi lạy (thầy đưa hai tay lên trời sau đó lùi lại một bước và một chân quỳ xuống hai tay chống vào đầu gối chân thuận rồi mới vái), Khi thầy Cả lạy xong, thầy Tạo lấy sách ra đọc và khấn, các thầy phụ đánh trống, thanh la não bạt theo nhịp đọc khấn của thầy. Hai thầy phụ múa để hầu các thần về dự lễ cấp sắc. Hai thầy này mặc áo dài đỏ có đai, mặc quần chàm đen, đầu đội khăn trắng được thêu hoa có tua, trên có ảnh thần linh, hai tay của hai thầy cầm một dải lụa màu ngũ sắc và một cây kiếm gỗ có khắc chữ Hán. Khi các thầy đã mời được các thần về dự lễ rồi thầy Cả và thầy phụ đánh một hồi trống dài dồn dập, rồi múa và rung chuông để đảm bảo hầu được hết các vị thần linh. Khi múa hầu thần xong, chủ nhà bê ra một mâm cúng bày lên bàn thờ gồm hai đĩa thịt lợn luộc chín; mỗi đĩa cắm một nén hương (với ý nghĩa đây là sản vật do chính người được cấp sắc làm ra để dâng lên thánh thần). Vai trò của thầy Cả là trung gian chuyển tải những thông tin giữa người và thần (như về dự lễ và ăn uống).
Tiếp đến, hai thầy đưa người được cấp sắc ra quỳ lạy trước bàn thờ tổ tiên và thầy Cả xin đổi tên cho người thanh niên.Tên của người được cấp sắc do bố mẹ, thầy, già làng dự kiến. Ba tên dự kiến này được viết vào ba tờ giấy bản rồi vo lại trộn vào trong cái nia có đựng gạo. Sau đó, thầy Cả sàng đi sàng lại 3 lần. Khi một trong ba viên giấy đó rơi vào vạt áo của người được cấp sắc thì thầy Cả cầm lên và mở ra đọc tên mới mà thánh vừa ban cho (thủ tục này phải xin âm dương, đồng âm dương bằng tre và xóc lên nếu có một đồng úp một đồng ngửa tức là thánh đã đồng ý tên đó). Từ nay trở đi, tên đó được coi như thánh và cộng đồng Dao đã công nhận và người được cấp sắc có quyền làm việc đại sự, một khi sang thế giới âm thì không sợ lang thang, bởi đã có vị trí sẵn).
Khi đặt tên xong, các thầy chuẩn bị chuyển sang lễ “lập tĩnh”. Lễ được làm ở một bãi rộng do thầy Cả định sẵn. Ở giữa bãi được lập dàn”lập tĩnh” cao khoảng 150cm đến 200cm. Dàn được dựng trên 4 cọc làm bằng cây gỗ thẳng, đường kính khoảng 20cm, có một thang 7 đến 9 bậc để lên xuống và một cái võng to tròn đan bằng dây leo ở trên rừng (theo các cụ cho biết, đó là loại dây gu, chắc và dẻo, bền. Công việc làm dàn và võng phải kín đáo không cho mọi người biết vì nếu để lộ thì việc làm sẽ mất thiêng, các thần sẽ không phù hộ.
Kiêng kỵ: Phải ăn chay trước hàng tuần và không được quan hệ vợ chồng.
Mâm cúng trong lễ này gồm một bát gạo, một chai rượu, tiền ma, một gói xôi để cúng xin thánh thần cho phép làm việc. Khi thánh thần đã đồng ý, công việc được tiến hành. Đoàn người đi ra bãi, đi đầu là một đứa trẻ tay cầm cờ ngũ sắc, tiếp theo là hai thầy múa, kế tiếp là thầy Cả và thầy Tạo… và đoàn tùy tùng đi sau tay cầm thanh la, não bạt, trống vừa đi vừa đánh; đi sau cùng là gia đình và làng xóm (cả bản). Khi đoàn tới bãi “lập tĩnh”, các thầy múa ra múa xoay quanh dàn “lập tĩnh” 3 vòng. Tiếng thanh la, não bạt, trống làm rộn ràng cả một bãi rộng lớn tạo nên một âm thanh vừa huyền bí, vừa thiêng liêng làm cho mọi người phấn chấn, rộn ràng. Sau khi múa xong, thầy Cả khấn và buộc một sợi dây vào 2 đầu ngón tay của người được thụ lễ rồi thầy phụ Cả, thầy Tạo và thầy phụ Tạo dẫn người thanh niên đó lên dàn “lập tĩnh” và ở trên đó. Phía dưới 3 thầy, những người dự lễ đứng thành 3 nhóm cạnh dàn, bao xung quanh các thầy múa. Các thầy này vừa múa vừa khấn 4 phương để báo cho các thần được biết. Phía dưới dàn, cạnh cầu thang lên xuống, đặt một cây đèn (ý nghĩa của cây đèn là đốt cháy hết bụi bẩn của trần tục và giữ cho sạch dàn “lập tĩnh”). Ở trên dàn, người thanh niên cũng phải múa theo thầy phụ Cả. Vừa múa, người thanh niên vừa ném tờ sớ (3 lần). Khi múa xong và ném hết tờ sớ, người thanh niên chắp tay lễ 4 phía và xin thề suốt đời làm điều thiện tránh điều ác và ngồi xuống ôm hai gối. Phía dưới, 4 thầy cầm chũm chọe vừa đi vừa đánh và chui qua gầm dàn, chui 4 phía theo hình số 8 (3 vòng). Đi xong 3 vòng, thầy múa cầm bốn cây cờ ngũ sắc ở bốn góc của dàn, thầy phụ Cả ngụm một hớp rượu nhỏ (rượu thánh) ngậm trong mồm và ngồi đối diện với người thụ lễ trên dàn. Chờ khi có tiếng hô của thây Cả, thầy phụ phun rượu đồng thời cắt đứt dây…. Được lệnh, người thanh niên thả mình rơi từ trên dàn “lập tĩnh” xuống. Ở dưới, 4 thầy cầm 4 góc của chiếc võng để hứng người thanh niên rơi vào đó, rồi 4 thầy cuộn luôn cả anh ta vào chiếc võng đó và đi xung quanh võng ba vòng, vừa đi vừa đánh trống, thanh la, não bạt,…Sau đó, các thầy cởi võng và bế người thanh niên đó ra và bón cho anh ta cơm nếp trộn với mật, rượu. Ý nghĩa của những việc này là để xua đuổi tà ma không ám vào đứa con mới ra đời và cho con bú. Khi tất cả các thủ tục hoàn tất, thầy Cả trao cho người thanh niên đó tờ giấy bản, trong đó ghi nội dung lý lịch của người anh ta (như ngày, giờ, làm lễ, số tử vi và tên mới thánh ban cho). Người thanh niên đưa lên tờ giấy ấp lên ngực và thầy Cả cầm “Ấn” khắc chữ Hán đưa lên miệng hà hơi làm phép, xong chấm vào bản sớ. Người thanh niên lạy 3 lạy, sau đó cất tờ giấy công nhận đó đi. Một bản khác, thầy Cả làm phép đốt đi gửi cho ma, thần để ma, thần được biết là người này đã có tên thánh ban cho. Sau khi hoàn tất các thủ tục, thầy Cả ra lệnh cho các thầy phụ chặt và vứt dàn võng đi không để cho ai biết. Về nhà, các thầy múa dạy người vừa được cấp sắc làm các bài múa khấn cho đến khi tạm ổn mới thôi. Cuối cùng, người được cấp sắc lạy 3 lạy xin thánh thần tổ tiên công nhận và bảo vệ cho mình và buổi lễ kết thúc .
Trên đây là một vài nét về lễ cấp sắc của người Dao. Lễ này được diễn ra trong một bầu không khí trang nghiêm. Đan xen vào các nghi thức lễ là những trò diễn để tạo cho cuộc lễ bớt đi sự cách biệt giữa mọi người và thêm phần vui tươi trong khi vẫn giữ được nét thành kính đặc trưng của người dân tộc Dao.
Nguồn: T/c Khoa học & Cuộc sống (LHH Yên Bái), số 6/2008, tr 30







