Uống thuốc kháng sinh thế nào cho hợp lý?
Trong việc sử dụng thuốc kháng sinh đường uống đôi khi người bệnh không nắm được tại sao có loại thuốc ngày uống 2 hoặc 3 lần và có loại lại chỉ uống ngày 1 lần? Sự dặn dò của thầy thuốc về số lần sử dụng đôi khi bị bệnh nhân lầm lẫn vì trong điều trị, thường bệnh nhân dùng cùng nhiều loại thuốc phụ trợ khác nữa chứ không chỉ dùng mình thuốc kháng sinh. Vì vậy, đối với các loại thuốc kháng sinh đường uống, số lần uống thuốc trong ngày cần phải được ghi rõ ràng và bệnh nhân cần thực hiện đúng theo quy định để không ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Khi cân nhắc chọn thuốc và liều lượng dùng cho từng đối tượng trong điều trị bằng thuốc kháng sinh uống, thầy thuốc phải nắm vững kiến thức về dược động học và dược lực học của mỗi loại thuốc để đưa ra lời khuyên dùng thuốc hợp lý nhất cho người bệnh. Cần phải chọn nhịp đưa thuốc phù hợp với mỗi loại kháng sinh để duy trì nồng độ kháng sinh trong huyết thanh sao cho khả năng tiêu diệt vi khuẩn ở mức tối đa, đồng thời giảm đến mức tối thiểu các tác dụng không mong muốn của thuốc.
Thầy thuốc cần phải:
- Lựa chọn thuốc kháng sinh có phổ tác dụng mạnh trên vi khuẩn gây bệnh.
- Chỉ định liều dùng hợp lý và nhịp đưa thuốc phù hợp với tính chất dược lực học và dược động học của thuốc.
Bệnh nhân cần phải:
- Tuân thủ chặt chẽ chỉ định về liều dùng và khoảng cách giữa các lần uống và số ngày phải dùng liên tục (liều trình).
- Không tự ý dùng chung các loại thuốc kháng sinh khác nếu không có chỉ định của thầy thuốc. Đối với các thuốc uống kèm như vitamin hoặc các lọai thuốc khác cần phải hỏi rõ để tránh uống cùng lúc có thể tạo ra những tương tác bất lợi hoặc cạnh tranh làm giảm hoạt tính của thuốc.
Các kháng sinh đường uống thường được bào chế ở hàm lượng thích hợp để thầy thuốc dễ đưa ra liều dùng phù hợp cho mỗi bệnh nhân. Chặng hạn hàm lượng của các thuốc nhóm betalactam dùng đường uống như ampicilin, amoxycilin, cephalexin thường đóng viên 250 hoặc 500mg. Các viên kháng sinh nhóm quinolon lại có hàm lượng rất khác nhau: ciprofloxacin đóng 500 hoặc 1.000mg, pefloxacin đóng 400mg, còn ofloxacin đóng 200mg mỗi viên. Các kháng sinh nhóm macrolid như clarithromycin đóng 250 hoặc 500mg.
Tốc độ diệt vi khuẩn của các nhóm kháng sinh rất khác nhau, do đó thầy thuốc cần phải cân nhắc để tạo ra thời gian tối ưu thuốc tác động lên vi khuẩn. Các aminoglycosid và floroquinolon có tác dụng diệt khuẩn nhanh, trái lại các betalactam, macrolid, clindamycin, tetraxyclin thì diệt khuẩn chậm hơn. Mặt khác, cần quan tâm đến thời gian bán thải t 1/2hay còn gọi là nửa đời sinh học của từng loại thuốc để định thời gian dùng thuốc thích hợp.
Lấy ví dụ, nhóm kháng sinh macrolid với các tên thuốc điển hình là erythromycin, clarythromycin, roxithromycin và azithromycin cần phải dùng hợp lý tùy theo tính chất dược động học của mỗi loại. Nhịp đưa thuốc của erythromycin là 4 lần trong ngày, clarythromycin nên chia 3 lần trong ngày. Hai loại thuốc này cần phải đưa vào cơ thể với khoảng cách ngắn hơn để duy trì nồng độ tác dụng luôn cao hơn nồng độ ức chế tối thiểu và kéo dài trong khoảng thời gian giữa 2 lần đưa thuốc. Roxythromycin có t 1/2dài nhưng nồng độ thuốc trong mô không cao như azithromycin nên thường dùng 2 lần trong ngày. Riêng azithromycin có t 1/2dài nên chỉ nên cần dùng ngày 1 lần. Thời gian dùng thuốc của erythromycin và clarythromycin có thể kéo dài 7-10 ngày nhưng đối với azithromycin thì chỉ nên dùng thuốc tối đa 3-5 ngày để tránh sự tích lũy thuốc trong mô gây hại cho tế bào.
Trong thực tế điều trị, bên cạnh các nguyên tắc dùng kháng sinh như chỉ dùng thuốc khi xác định chắc chắn có nhiễm khuẩn, chọn loại phù hợp với chủng vi khuẩn gây bệnh, chỉ định liều hợp lý là trách nhiệm của thầy thuốc thì người bệnh cũng cần tích cực hợp tác bằng cách tuân thủ đúng các chỉ định, duy trì thời gian và khoảng cách giữa các lần uống thuốc đúng theo quy định, theo dõi những phản ứng phụ nếu có và thông báo cho thầy thuốc. Trong việc sử dụng các thuốc kháng sinh đường uống, điều này có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và nếu thực hiện tốt sẽ giảm được chi phí mỗi khi cần dùng thuốc kháng sinh.
Nguồn: Thuốc & sức khỏe, 328, 15-3-2007, tr 17







