Uống nuớc lạnh, họng sưng to
Không uống nước lạnh đột ngột
Viêm họng cấp là loại bệnh phổ biến nhất trong các bệnh tai - mũi - họng. Theo thống kê, có tới 40 - 45% bệnh nhân đến khám ở phòng khám Tai mũi họng có bệnh viên họng cấp. Bệnh gặp nhiều ở trẻ em lứa tuổi 5 - 15. Thực tế, số bệnh nhân đi khám tại các phòng khám bị viêm họng cấp tính, trong quá trình khai thác bệnh sử dụng đều có liên quan tới sử dụng nước lạnh.
Viêm họng cấp do vi khuẩn có tỷ lệ 20 - 30% tổng số các loại viêm họng cấp. Đứng hàng đầu là liên cầu tan huyết nhóm A gây ra viêm họng đỏ cấp (chiếm 20% trong tổng số các loại viêm họng cấp), thường gây các biến chứng nguy hiểm như: viêm màng tim, viêm cầu thận… đặc biệt ở trẻ em. Đứng hàng thứ hai là: tụ cầu vàng, não mô cầu, Streptococus pneumoniae, trực khuẩn Haemophilus influenzae. Streptococus pneumoniae, trực khuẩn Haemophilus influenzae bình thường sống trong niêm mạc mũi họng của trẻ, khi trẻ bị giảm sức đề kháng (do bị cảm lạnh, bị nhiễm virus…), chúng trở thành vi khuẩn gây bệnh và hay gây biến chứng như: viêm đường hô hấp cấp, viêm phổi, viêm tai giữa cấp… Triệu chứng lâm sàng nổi bật là đau họng kèm theo cảm giác nóng rát, đặc biệt là nuốt đau, sốt, mệt mỏi.
Họng là khoang chung cho đường tiêu hoá và hô hấp, có bề mặt niêm mạc trải rộng và tổ chức tuyến phong phú, nó điều hoà độ ẩm, lọc sạch không khí hít vào, làm không khí hít và thích hợp được với yêu cầu của cơ thể là 36 - 37 0C. Khi uống nước lạnh, nhiệt độ của cơ thể hạ xuống. Lập tức, hệ thống điều tiết nhiệt độ cơ thể phải làm việc để đưa nhiệt độ cơ thể bạn duy trì ở mức độ bình thường.
Vì vậy, không nên uống quá nhiều nước lạnh, đặc biệt khi đi ngoài trời về để tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột khiến niêm mạc họng giảm sức đề kháng. Từ đó, các vi khuẩn sẵn có trong niêm mạc họng có thời cơ bùng phát, dễ sinh ra viêm họng cấp tính.
Viêm họng đỏ - không thể xem thường
Thực chất, viêm họng cấp tính ở họng hoặc amiđan hay gặp vào mùa lạnh hoặc gặp phổ biến hơn, chiếm 65% trong tổng số các viêm họng cấp, hầu hết là do virus, dễ lây thành dịch vào những lúc thời tiết thay đổi, gặp nhiều ở trẻ em, lây theo đường khí. Bệnh bắt đầu đột ngột, ớn lạnh, sốt cao 39 0C - 40 0C, nuốt đau, rát họng, khát nước, đau mình, kém ăn và kém ngủ, tiếng nói mất trong. Lúc đầu có cảm giác khô nóng trong họng, dần dần cảm giác đau rát tăng lên khi nuốt, ho, nói, đau lên tai và đau nhói khi nuốt, ngạt tắc mũi, chảy nước mũi nhầy, tiếng khàn nhẹ và ho khan. Khám họng toàn bộ niêm mạc họng đỏ rực, màn hầu, amiđan, trụ trước, trụ sau và thành sau họng cương to đỏ. Hai amiđan viêm to, trên bề mặt amiđan có chất nhầy trong. Có khi có bựa trắng như nước cháo phủ trên bề mặt amiđan hoặc miệng các hốc amiđan. Bệnh diễn biến trong 5 - 7 ngày. Nếu sức đề kháng tốt, bệnh sẽ lui dần, các triệu chứng trên mất đi rất nhanh. Nếu có bội nhiễm do liên cầu, tụ cầu, phế cầu các biến chứng sẽ xảy ra như viêm tai, viêm mũi, phế quản.
Người mắc bệnh nên nghỉ ngơi, giữ ấm. Chống sốt bằng thuốc aspirin, A. P. C, analgin, paracetanol theo chỉ định của bác sĩ. Chống đau họng bằng các dung dịch kiềm ấm như nước muối, dung dịch clorat kali 1% hoặc BBM; trẻ em bôi họng bằng glyxerin borat 5%, nhỏ mũi argyron 1%.
Nguồn: KH&ĐS, số 95, 8 - 10 - 2007, tr 8








