Ung thư vú
Năm 2002, toàn cầu có 1,15 triệu người bị ung thư vú, phụ nữ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ có nguy cơ rất cao so với phụ nữ châu Á. Trước đây, tại TPHCM, ung thư cổ tử cung là loại ung thư cao nhất ở phụ nữ, nhưng nhờ chương trình phòng chống ung thư cổ tử cung, hiện nay ung thư vú có nguy cơ mắc bệnh cao nhất ở phụ nữ nước ta. Theo số liệu mới nhất, ở Hà Nội mỗi năm có 30/100.000 phụnữ mới mắc ung thư vú, ở TPHCM thì có 20/100.000 mỗi năm.
Các nghiên cứu cho thấy: nguy cơ bị ung thư vú tăng lên khi phụ nữ càng lớn tuổi, dưới 30 hiếm khi bị, phần lớn xảy ra ở phụ nữ khoảng tuổi 35 – 45.
Các yếu tố làm tăng thêm nguy cơ:có mẹ, chị em ruột bị ung thư vú; có vài xáo trộn về di truyền (đột biến của các gen BRCA 1, BRCA 2 vài gen khác).
Các yếu tố có liên hệ tới sự gia tăng nguy cơ:càng chịu tác động lâu dài của estrogen thì nguy cơ càng cao (thí dụ: phụ nữ có kinh sớm trước 12 tuổi và mãn kinh trễ sau 55 tuổi); dùng liệu pháp nội tiết thay thế trong thời gian dài; không bao giờ sinh con; có con đầu lòng trễ sau 30 tuổi; độ đậm đặc của mô vú (vú có nhiều mô mỡ ít nguy cơ hơn); phụ nữ hút thuốc lá, uống rượu; chế độ dinh dưỡng nhiều thịt và chất béo; béo phì; độn vú.
Sự tầm soát để phát hiện sớm ung thư vú thực sự chứng tỏ hiệu quả, làm giảm tử vong do bệnh.
Chụp nhũ ảnh tầm soát(khác với chụp nhũ ảnh để chẩn đoán), dùng để tìm kiếm các xáo trộn ở vú phụ nữ lúc chưa có dấu hiệu ung thư. Đây là phương pháp tốt để phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm. Nhũ ảnh là một loại ảnh X quang, có thể cho thấy vài đốm vôi li ti trong vú (có thể là triệu chứng sớm của ung thư). Nhũ ảnh cũng có một số hạn chế như: âm thanh dương tính giả(bỏ sót ung thư) hoặc dương tính giả(tìm thấy các dấu hiệu ung thư mà thực sự là xáo trộn lành tính).
![]() |
Hiện tại TPHCM chưa có chương trình rà tìm ung thư vú bằng nhũ ảnh, cần xây dựng một chương trình tầm soát ung thư vú phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội nước ta. Cần lưu ý: chụp nhũ ảnh đôi khi rất đau vì bộ ngực nhỏ hoặc lép và có thể bỏ sót bướu hoặc ung thư.
Siêu âmlà xét nghiệm trong tầm tay, không độc hại; đã góp phần đáng kể trong việc giúp phát hiện các loại xáo trộn của vú, bao gồm ung thư.
Tự khám vú: nhiều chuyên gia uy tín trên thế giới nhận thấy rằng việc tự khám vú giúp ích hơn phụ nữ trong việc phát hiện sớm ung thư vú. Trong hoàn cảnh nước ta, biện pháp tự khám vú đã giúp nhiều phụ nữ phát hiện sớm bất thường ở vú, để đến bác sĩ khám và được định bệnh ở giai đoạn còn điều trị tốt.
![]() |
Ung thư vú ở giai đoạn sớm thường không gây đau đớn cho người bệnh, nhưng khi khối u lớn lên thì có thể gây các xáo trộn:
- Một cục hoặc một chỗ dày lênở trong hay gần vú hoặc là ở trong nách.
- Vú to rahoặc có thay đổi hình dángcủa vú, có chất dịch ở núm vúhoặc núm vú thụt vào.
- Da vú giống da trái cam (vỏ cam).
- Thay đổi ở da vú, quầng vú, núm vú (nóng, đỏ, sưng, ngứa).
Khi có bất cứ triệu chứng nào kể trên, dù đa số không phải là ung thư, phụ nữ nên đến bác sĩ khám, để có thể chẩn đoán và điều trị sớm bệnh. Lưu ý: phụ nữ trên 30 tuổi, sờ nắn trong vú thấy có một cục u cứng không đau thì nên đi khám bác sĩ chuyên khoa ung bướu ngay, cần biết là bướu ung thư thì cứng chắc, không đauvà người bệnh thường vẫn khoẻ mạnh, thời kỳ ban đầu ung thư rất im lìm, rất hiểm, làm ra vẻ rất hiền. Còn bướu lànhthường tròn, rờ thấy bề mặt trơn láng, “chạy tới chạy lui” dưới ngón tay khám, có thể hơi lớn thêm và hơi đau nhức khi gần tới kinh.
Để xác định bệnh:thầy thuốc sẽ thực hiện các bước sau:
Khám lâm sàng tuyến vú:đòi hỏi kỹ thuật và kinh nghiệm của thầy thuốc, để đánh giá cục u trong vú là lành tính hay ác tính và cho thực hiện các xét nghiệm cần thiết.
Nhũ ảnh chẩn đoán:cung cấp nhiều dữ kiện quan trọng về khối bướu cho thầy thuốc.
Siêu âm:giúp phân biệt khối u là khối lỏng (nang nước) hay khối đặc (lành hay ác). Siêu âm có thể giúp định vị các tổn thương nhỏ để hướng dẫn chọn hút bằng kim nhỏ hoặc sinh tiết.
Kết hợp lâm sàng, siêu âm và nhũ ảnh sẽ giúp đỡ nhiều cho việc chẩn đoán.
![]() |
Khi đã xác định là ung thư vú:thầy thuốc cần phải biết bản chất của ung thư (y khoa gọi là giải phẫu bệnh), loại ung thư vú thường gặp là carcinom ống tuyến vú(loại ung thư phát xuất từ lớp lót mặt trong của các ống dẫn sữa); và phải xác định một điều quan trọng nữa là ung thư còn tại chỗ hay đã xâm lấn sang các mô lân cận (y khoa gọi là Carcinôm không xâm lấnvà Caricinoom xâm lấm).
Nếu các tế bào ung thư không xâm nhập vào các mô lân cận và vẫn ở trong các ống dẫn hay trong thuỳ thì ung thư được coi là carcinôm tại chỗ.Loại ung thư này còn quá nhỏ để hình thành cục u hay cục bướu, vì vậy khó phát hiện qua khám lâm sàng.
Khoảng 95% các ung thư vú là dạng xâm lấn với các loại giải phẫu bệnh khác nhau.
Các xét nghiệm đặc biệt:các thụ thể estrogen và progesteron ER, PR giúp thầy thuốc có thêm lựa chọn là có dùng liệu pháp nội tiết để điều trị không? Có các xét nghiệm giúp tiên lượng bệnh như X quang, dấu hiệu CA 15.3… Ở các phòng xét nghiệm tiên tiến còn làm cả xét nghiệm gen HER -2.
Tuỳ theo tình trạng lan tràn của bệnh, thầy thuốc sẽ xếp thành các nhóm theo mức độ nặng nhẹđể định kế hoạch trị liệu:
- Nhóm A:các ung thư còn nhỏ, kích thước dưới 2cm, không rờ thấy hạch nách và các xét nghiệm không thấy sự lan tràn toàn thân của bệnh (không có di căn xa).
- Nhóm B:ung thư với khối bướu tại chỗ có kích thước lớn hơn 2 cm, có kèm theo hạch nách hoặc không, vẫn chưa có di căn xa.
- Nhóm C:ung thư ăn lan tại chỗ rất nhiều hoặc ung thư có di căn xa.
Về cơ bản có hai mục tiêu điều trị:
- Điều trị tại chỗ - tại vùng:nhắm vào khối bướu nguyên phát và các nhóm hạch tại vùng kế cận.
- Trị liệu toàn thân(thường được gọi là trị liệu bổ sung) nhằm tấn công bệnh nhân đã lan khắp người.
Phẫu trị:phương pháp thường được dùng nhất là đoạn nhũ (cắt toàn bộ tuyến vú). Trong những năm gần đây có rất nhiều thay đổi về các phương pháp mổ: phẫu thuật ngày càng bảo tồn hơn và hợp lý hơn, phẫu thuật tái tạo nhũ hoa ngày càng hoàn chỉnh.
Xạ trị:phẫu thuật bảo tồn và xạ trị đã trở thành phác đồ chuẩn cho một số người bệnh. Trước khi phẫu trị, người ta có thể dùng xạ trị riêng lẻ hoặc phối hợp với hoá trị hay phối hợp với liệu pháp nội tiết để diệt bớt tế bào ung thư, làm khối bướu nhỏ đi. Cách này áp dụng cho các trường hợp bướu vú quá lớn hoặc khó dùng phẫu trị để bứng đi.
Hoá trị:dùng thuốc để giết các tế bào ung thư. Hiện nay đa hoá trị đã thành thường quy. Sự hiểu rõ sinh học tế bào giúp cho hoá trị ung thư ngày càng có cơ sở vững chắc và hiệu quả.
Liệu pháp nội tiết:đang chứng tỏ vai trò đặc biệt của nó trong điều trị ung thư vú, bằng cách ngăn cản không cho tế bào ung thư được tiếp liệu các hormon mà chúng cần để tăng trưởng.
Liệu pháp sinh học:một thành tựu đầy ý nghĩa là thuốc Herceptin (Trastazumab - một kháng thể đơn dòng) nhằm vào các tế bào ung thư nào có quá nhiều một loại protein tên là HER -2.Khi khoá gen HER -2, Herceptin giúp làm chậm lại hoặc làm dừng lại sự tăng trưởng của các tế bào ung thư này.











