Ứng phó với biến đổi khí hậu: “Sống chung” thay vì chống lại
Thời gian gần đây, thuật ngữ “sống chung với BĐKH” được các chuyên gia nhắc đến nhiều. Nghĩa là, thay vì chống lại nó thì hãy tìm cách thích nghi. Theo đó, có thể áp dụng các giải pháp: trồng cây quanh nhà, tái sử dụng và tái chế chất thải, trữ nước trong gia đình, điều chỉnh thời vụ, chọn cây - con giống có khả năng kháng chịu các điều kiện bất lợi của thời tiết. Nhưng đó mới chỉ là lý thuyết chứ chưa được triển khai rộng dù tác động của BĐKH đã thấy rất rõ ràng.
ĐBSCL là nơi cung cấp đến 90% sản lượng lương thực cho cả nước, vậy mà đến thời điểm này, việc chọn giống lúa nào có thể ứng phó với BĐKH vẫn còn đang trong quá trình nghiên cứu. Theo các nhà khoa học thuộc Viện Lúa ĐBSCL, viện đã thực hiện chọn tạo giống lúa chịu mặn từ khá lâu. Tuy nhiên, phần lớn các thử nghiệm mới chỉ thực hiện trong phòng thí nghiệm, chưa kiểm chứng đầy đủ khả năng chịu sức nóng mặt trời, môi trường đất phèn và độ mặn tăng lũy tiến sau mỗi lần cho nước lợ vào ruộng... của giống lúa này. Do vậy, khi đưa ra khảo nghiệm tại địa phương, nhiều nông dân không mặn mà.
Theo ông Ngô Tiến Dũng, Trưởng phòng Bảo vệ thực vật, Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN và PTNT): “Phương pháp thâm canh lúa cải tiến (SRI) là phương pháp ứng phó BĐKH rất hiệu quả. Qua thử nghiệm tại một số địa phương như Nghệ An, Hà Nội, Thái Nguyên, Yên Bái, Bắc Ninh,... thấy SRI không những giúp nông dân giảm chi phí sản xuất mà còn có thể thu lãi trên 30%. áp dụng SRI giúp bà con giảm được hơn 70% lượng giống; 30% lượng urê và hầu như không cần dùng thuốc bảo vệ thực vật, lợi nhuận tăng từ 7-10 triệu đồng/ha. So với tập quán canh tác cũ, ruộng lúa áp dụng SRI rất ít bị sâu bệnh gây hại. Bệnh khô vằn giảm 2-3 lần, sâu cuốn lá nhỏ giảm 0,2-9 lần, rầy nâu giảm 6 lần”.
Tuy hiệu quả của phương pháp này rất rõ nhưng nhiều nông dân vẫn chưa áp dụng. Chị Hoàng Thị Liên ở xã Đồng Phú (Chương Mỹ - Hà Nội), tuyên truyền viên tích cực của SRI cho biết, sau vài vụ triển khai, nhiều nông dân trong xã đã ứng dụng thành thạo SRI, không những thế, họ còn hướng dẫn cho người khác cùng làm. Tuy nhiên, để nhân rộng mô hình này, biện pháp quan trọng nhất là đẩy mạnh việc triển khai các hoạt động chứng minh hiệu quả và thuyết phục bằng thực tế như mở các lớp nghiên cứu, xây dựng các mô hình phù hợp với điều kiện của từng địa phương.
GS.TS. Võ Tòng Xuân, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang cho rằng, để BĐKH không chỉ là câu chuyện của những nhà khoa học, cần có những thông điệp sát sườn với cuộc sống người dân. Chẳng hạn như, nếu nhiệt độ nhích lên 1 độ C, năng suất lúa sẽ giảm 10%, nguồn lợi thủy sản cũng giảm sút kèm lũ mạnh trong mùa mưa, thiếu nước ngọt trong mùa khô...
Trên thực tế, đối diện với khí hậu và con nước thất thường, bản thân những nông dân lam lũ lại có cách ứng phó với BĐKH hiệu quả. Đơn cử như việc trồng các loại lúa không chịu ảnh hưởng bởi chu kỳ thay thế cho lúa mùa thường chín vào mùa nước nổi, hay nuôi trồng xen kẽ một vụ tôm - một vụ lúa để rửa mặn cho đất. Nhiều nơi ở ĐBSCL, hình thức canh tác VAC đang trở thành lựa chọn của nhiều người dân, nhằm tận dụng mọi nguồn lợi để tăng thu nhập, trong khi lại chia nhỏ rủi ro trước những diễn biến phức tạp của thời tiết. Tương tự, trồng rừng ngập mặn để làm lá chắn phòng hộ cho vùng ven biển miền Tây đang được hồi sinh. Đây cũng là cách cải thiện sinh kế khi rừng phát triển đi đôi với nguồn lợi nuôi ong mật và thủy sản nước lợ dưới tán rừng.
Mới đây, khoảng 400 hộ dân thuộc HTX nghêu Tiến Thành, xã Long Hòa (Châu Thành - Trà Vinh) đã tham gia bảo vệ rừng bên trong bãi nghêu của mình. Anh Huỳnh Quốc Vũ, Trưởng ban quản trị HTX cho biết: “Nhờ rừng hồi sinh, môi trường ổn định nên nghêu rất ít bị bệnh, các loại thủy sinh khác cũng phát triển”. Điều đó cho thấy, thích ứng với BĐKH có thể chỉ từ một việc làm nhỏ nhất là trồng rừng ven biển. Chính ông Jean Henry Laboyrie, Giám đốc dự án Công ty tư vấn Hà Lan Royal Haskoing cũng cho rằng: “Duy trì hệ thống rừng ngập mặn ở ĐBSCL là một giải pháp tốt để ứng phó với BĐKH”.








