Ứng dụng sinh học phân tử trong nghiên cứu, điều trị bệnh sốt rét mở ra nhiều triển vọng
PV:So với phương pháp hình thái học thì sinh học phân tử có những ưu điểm gì và phương pháp này được ứng dụng trong y học như thế nào, thưa TS?
TS. Triệu Nguyên Trung:Việc sử dụng các kỹ thuật ADN (trước hết là kỹ thuật PCR) và kỹ thuật protein để xác định chuỗi gen hay chuỗi axit amin của từng gen, cũng như lập bản đồ gen của từng khu vực nhất định trong hệ gen của loài cần chẩn đoán để so sánh đối chiếu với những loài khác, nhằm xác định chính xác loài mong muốn. Ngày nay khảo sát và phân tích cấu trúc ADN của cá thể để so sánh, được coi là phương pháp tối ưu trong nghiên cứu sinh vật, do ADN có tính ổn định tương đối cao trong suốt đời sống của sinh vật, do đó có thể phân tích mẫu vật ở bất kỳ giai đoạn nào trong chu kỳ sống của sinh vật từ trứng đến trưởng thành.
Việc chẩn đoán, giám định và phân loại nhiều loại sinh vật cho đến nay vẫn dựa vào phương pháp hình thái học là chính. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là không thể xác định chính xác những sinh vật có hình thái bên ngoài tương đối giống nhau nhưng lại có những đặc điểm về di truyền và sinh học khác nhau, nhất là đối với nhưng loài có vai trò quan trọng về y học. Hiện nay các phương pháp sinh học phân tử (SHPT) bước đầu đã được ứng dụng trong chẩn đoán, phân loại và lập phả hệ sinh vật ở Việt Nam cho thấy đã có những hiệu quả đáng kể.
Sinh học phân tử đã thâm nhập vào hầu như mọi lĩnh vực của y tế, trong đó phát triển mạnh nhất phải kể đến lĩnh vực chẩn đoán, phòng ngừa với việc tạo ra các vaccine hiệu quả cao. Lĩnh vực sản xuất các chất chữa bệnh (interferon, protein có hoạt tính sinh học như insuline...) ngày càng phát triển mạnh và trở thành một công nghiệp phồn thịnh và đặc biệt liệu pháp gen mặc dù thành tựu còn hạn chế đã mở ra những triển vọng to lớn trong việc chữa trị những bệnh di truyền cũng như chẩn đóan các bất thường bẩm sinh trên AND, chẩn đoán phát hiện các tác nhân ngoại lai, đặc biệt chiếm ưu thế với các tác nhân không thể hay khó nuôi cấy như trong trường hợp của trực khuẩn Koch, Brucelia, Chlamydia, Hepatitis B vius....; sản xuất các chất phòng và chữa bệnh.
PV:Trong lĩnh vực nghiên cứu và điều trị bệnh sốt rét, ứng dụng sinh học phân tử đã mang lại những hiệu quả gì, thưa TS?
TS. Triệu Nguyên Trung:Trong nghiên cứu và điều trị bệnh sốt rét, phương pháp sinh học phân tử đã được ứng dụng rất có hiệu quả, cụ thể:
![]() |
| P.falciparum |
Đối với nghiên cứu ký sinh trùng sốt rét:Phát hiện và xác định chính xác các loài ký sinh trùng sốt rét gây bệnh ở người giúp cho việc xác định phân bố phân tử của các loài ký sinh trùng này ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên. Chẩn đoán chính xác loài ký sinh trùng khi phương pháp chẩn đoán hình thể bằng phương pháp soi kính hiển vi gặp khó khăn như hình thể không điển hình, mật độ ký sinh trùng quá thấp không phát hiện được. Chẩn đoán phân biệt giữa tái phát và tái nhiễm ký sinh trùng sốt rét, giúp cho việc đánh giá tình hình nhậy kháng của ký sinh trùng sốt rét đối với các loại thuốc điều trị đang sử dụng, từ đó có những biện pháp can thiệp có hiệu quả cũng như giúp cho việc hoạch định chiến lược sử dụng thuốc sốt rét trong Chương trình phòng chống sốt rét.
Đối với các loại ký sinh trùng truyền bệnh khác:Giám định, phân loại một số loài giun sán gây bệnh ở người như chẩn đóan phân biệt các loài sán lá gan lớn Fasciolahepaticavới F. giganticahoặc chẩn đoán phân biệt các loài sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensisvới Opisthorchis viverrini, giun chỉ bạch huyết, sán dây, sán lá phổi....
PV:Người bệnh được hưởng lợi gì khi phương pháp này được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu điều trị sốt rét, thưa TS?
TS. Triệu Nguyên Trung:Ứng dụng kỹ thuật SHPT, giúp chẩn đóan sớm và chính xác tác nhân gây bệnh, giúp cho việc điều trị kịp thời và hiệu quả. Giúp chẩn đoán sớm P.falciparum, điều trị đúng, kịp thời, góp phần giảm tỷ lệ sốt rét ác tính cũng như tử vong, nhất là đối với trẻ em và phụ nữ có thai. Tuy nhiên việc này cũng bị hạn chế ở tuyến cơ sở do hạn chế về trang thiết bị và hóa chất, con người. Trong tương lai với sự phát triển ngày càng mạnh của các phương pháp sinh học phân tử, hy vọng sẽ sản xuất được các loại vaccine phòng chống sốt rét có hiệu quả để có thể hạn chế tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét.
PV:Cuối cùng xin TS cho biết Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử từ khi nào và các khó khăn gặp phải?
TS. Triệu Nguyên Trung:Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy nhơn đã ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử vào các nghiên cứu chuyên ngành của mình từ năm 2003, bắt đầu từ khi được đầu tư trang thiết bị nghiên cứu về SHPT. Viện đã có một số cán bộ được đào tạo chính quy và tiếp cận với các phương pháp SHPT tại các trường đại học, Viện nghiên cứu có uy tín ở nước ngoài như Viện Di truyền phân tử và kỹ thuật di truyền (Insstitude of Molecular Biology and Genetic Engineering) thuộc đại học Mahidol, Thái Lan (Mahidol university, Thailand), Viện nghiên cứu Y học Queensland, Úc (Queensland Institude for Medical Research, Australia). Bước đầu ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử đã giúp ích rất nhiều trong việc xác định chính xác các loài muỗi truyền bệnh SR, ký sinh trùng sốt rét, giải quyết các vấn đề khó khăn mà phương pháp hình thái không giải quyết được. Tuy nhiên các khó khăn lớn nhất trong quá trình thực hiện là hóa chất sinh phẩm đắt tiền, chủ yếu ứng dụng trong nghiên cứu là chính, việc áp dụng rộng rãi xuống đến tuyến cơ sở còn hạn chế.
PV:Trân trọng cảm ơn TS về cuộc trao đổi này!
Nguồn: Sức khỏe và Đời sống, 5/2008









