Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/06/2008 15:38 (GMT+7)

Ứng dụng sinh học phân tử trong nghiên cứu, điều trị bệnh sốt rét mở ra nhiều triển vọng

PV:So với phương pháp hình thái học thì sinh học phân tử có những ưu điểm gì và phương pháp này được ứng dụng trong y học như thế nào, thưa TS?

TS. Triệu Nguyên Trung:Việc sử dụng các kỹ thuật ADN (trước hết là kỹ thuật PCR) và kỹ thuật protein để xác định chuỗi gen hay chuỗi axit amin của từng gen, cũng như lập bản đồ gen của từng khu vực nhất định trong hệ gen của loài cần chẩn đoán để so sánh đối chiếu với những loài khác, nhằm xác định chính xác loài mong muốn. Ngày nay khảo sát và phân tích cấu trúc ADN của cá thể để so sánh, được coi là phương pháp tối ưu trong nghiên cứu sinh vật, do ADN có tính ổn định tương đối cao trong suốt đời sống của sinh vật, do đó có thể phân tích mẫu vật ở bất kỳ giai đoạn nào trong chu kỳ sống của sinh vật từ trứng đến trưởng thành.

Việc chẩn đoán, giám định và phân loại nhiều loại sinh vật cho đến nay vẫn dựa vào phương pháp hình thái học là chính. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là không thể xác định chính xác những sinh vật có hình thái bên ngoài tương đối giống nhau nhưng lại có những đặc điểm về di truyền và sinh học khác nhau, nhất là đối với nhưng loài có vai trò quan trọng về y học. Hiện nay các phương pháp sinh học phân tử (SHPT) bước đầu đã được ứng dụng trong chẩn đoán, phân loại và lập phả hệ sinh vật ở Việt Nam cho thấy đã có những hiệu quả đáng kể.

Sinh học phân tử đã thâm nhập vào hầu như mọi lĩnh vực của y tế, trong đó phát triển mạnh nhất phải kể đến lĩnh vực chẩn đoán, phòng ngừa với việc tạo ra các vaccine hiệu quả cao. Lĩnh vực sản xuất các chất chữa bệnh (interferon, protein có hoạt tính sinh học như insuline...) ngày càng phát triển mạnh và trở thành một công nghiệp phồn thịnh và đặc biệt liệu pháp gen mặc dù thành tựu còn hạn chế đã mở ra những triển vọng to lớn trong việc chữa trị những bệnh di truyền cũng như chẩn đóan các bất thường bẩm sinh trên AND, chẩn đoán phát hiện các tác nhân ngoại lai, đặc biệt chiếm ưu thế với các tác nhân không thể hay khó nuôi cấy như trong trường hợp của trực khuẩn Koch, Brucelia, Chlamydia, Hepatitis B vius....; sản xuất các chất phòng và chữa bệnh.

PV:Trong lĩnh vực nghiên cứu và điều trị bệnh sốt rét, ứng dụng sinh học phân tử đã mang lại những hiệu quả gì, thưa TS?

TS. Triệu Nguyên Trung:Trong nghiên cứu và điều trị bệnh sốt rét, phương pháp sinh học phân tử đã được ứng dụng rất có hiệu quả, cụ thể:

P.falciparum
P.falciparum
Đối với lĩnh vực nghiên cứu côn trùng truyền bệnh sốt rét:Đã ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử để xác định nhóm loài An. minimusAn.dirus, là các loài muỗi truyền bệnh sốt rét chính ở khu vực miền Trung và Tây nguyên, do 2 loài muỗi này có một số đặc điểm về hình thái rất giống với một số loài muỗi khác không có vai tròtruyền bệnh, do đó nếu chỉ dựa vào những đặc điểm hình thái để phân loại đôi khi dẫn đến sự nhầm lẫn. Với sự trợ giúp của kỹ thuật SHPT, đã giúp cho việc xác định chính xác các loài muỗi có vai tròtruyền bệnh. Việc xác định chính xác các loài muỗi là vấn đề hết sức cần thiết cho các nghiên cứu về sự phân của chúng, về vai trò truyền bệnh từ đó giúp cho việc chỉ đạo thực hiện các biện phápphòng chống sốt rét có hiệu quả; xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể muỗi nhằm xác định vai trò truyền bệnh của các loài muỗi sốt rét. Ứng dụng trong nghiên cứu cơ chế kháng hóachất diệt của các một số muỗi sốt rét từ đó giúp cho việc đề xuất và chỉ đạo các biện pháp sử dụng hóa chất phòng chống vector có hiệu quả.

Đối với nghiên cứu ký sinh trùng sốt rét:Phát hiện và xác định chính xác các loài ký sinh trùng sốt rét gây bệnh ở người giúp cho việc xác định phân bố phân tử của các loài ký sinh trùng này ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên. Chẩn đoán chính xác loài ký sinh trùng khi phương pháp chẩn đoán hình thể bằng phương pháp soi kính hiển vi gặp khó khăn như hình thể không điển hình, mật độ ký sinh trùng quá thấp không phát hiện được. Chẩn đoán phân biệt giữa tái phát và tái nhiễm ký sinh trùng sốt rét, giúp cho việc đánh giá tình hình nhậy kháng của ký sinh trùng sốt rét đối với các loại thuốc điều trị đang sử dụng, từ đó có những biện pháp can thiệp có hiệu quả cũng như giúp cho việc hoạch định chiến lược sử dụng thuốc sốt rét trong Chương trình phòng chống sốt rét.

Đối với các loại ký sinh trùng truyền bệnh khác:Giám định, phân loại một số loài giun sán gây bệnh ở người như chẩn đóan phân biệt các loài sán lá gan lớn Fasciolahepaticavới F. giganticahoặc chẩn đoán phân biệt các loài sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensisvới Opisthorchis viverrini, giun chỉ bạch huyết, sán dây, sán lá phổi....

PV:Người bệnh được hưởng lợi gì khi phương pháp này được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu điều trị sốt rét, thưa TS?

TS. Triệu Nguyên Trung:Ứng dụng kỹ thuật SHPT, giúp chẩn đóan sớm và chính xác tác nhân gây bệnh, giúp cho việc điều trị kịp thời và hiệu quả. Giúp chẩn đoán sớm P.falciparum, điều trị đúng, kịp thời, góp phần giảm tỷ lệ sốt rét ác tính cũng như tử vong, nhất là đối với trẻ em và phụ nữ có thai. Tuy nhiên việc này cũng bị hạn chế ở tuyến cơ sở do hạn chế về trang thiết bị và hóa chất, con người. Trong tương lai với sự phát triển ngày càng mạnh của các phương pháp sinh học phân tử, hy vọng sẽ sản xuất được các loại vaccine phòng chống sốt rét có hiệu quả để có thể hạn chế tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét.

PV:Cuối cùng xin TS cho biết Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử từ khi nào và các khó khăn gặp phải?

TS. Triệu Nguyên Trung:Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy nhơn đã ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử vào các nghiên cứu chuyên ngành của mình từ năm 2003, bắt đầu từ khi được đầu tư trang thiết bị nghiên cứu về SHPT. Viện đã có một số cán bộ được đào tạo chính quy và tiếp cận với các phương pháp SHPT tại các trường đại học, Viện nghiên cứu có uy tín ở nước ngoài như Viện Di truyền phân tử và kỹ thuật di truyền (Insstitude of Molecular Biology and Genetic Engineering) thuộc đại học Mahidol, Thái Lan (Mahidol university, Thailand), Viện nghiên cứu Y học Queensland, Úc (Queensland Institude for Medical Research, Australia). Bước đầu ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử đã giúp ích rất nhiều trong việc xác định chính xác các loài muỗi truyền bệnh SR, ký sinh trùng sốt rét, giải quyết các vấn đề khó khăn mà phương pháp hình thái không giải quyết được. Tuy nhiên các khó khăn lớn nhất trong quá trình thực hiện là hóa chất sinh phẩm đắt tiền, chủ yếu ứng dụng trong nghiên cứu là chính, việc áp dụng rộng rãi xuống đến tuyến cơ sở còn hạn chế.

PV:Trân trọng cảm ơn TS về cuộc trao đổi này!

Nguồn: Sức khỏe và Đời sống, 5/2008

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.