Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 04/07/2007 22:27 (GMT+7)

Tưởng nhớ cố GS.TSKH Nguyễn Văn Trương: Bài học từ một làng sinh thái

Đề tài: “Lâm nghiệp xã hội ở các tỉnh duyên hải miền Trung” do GS Nguyễn Văn Trương (Viện Kinh tế sinh thái - viện nghiên cứu dân lập đầu tiên ở nước ta, nay trực thuộc Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam) làm Chủ nhiệm, phối hợp với hai đơn vị khác thuộc Viện Khoa học Việt Nam và Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ thực hiện theo 3 nhánh, trong đó Viện Kinh tế Sinh thái nhận một nhánh xây dựng một làng sinh thái trên vùng cát xã Triệu Vân,Triệu Phong, Quảng Trị.

Một ngày đầu tháng 5 năm 1993, đoàn làm việc gồm GS Nguyễn Văn Trương, GS Trịnh Văn Thịnh - nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa học, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, GS Tôn Thất Chiểu - chuyên gia thổ nhưỡng, GS Nguyễn Pháp - nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, GS Lê Duy Thước - chuyên gia nông nghiệp và GS Nguyễn Văn Thưởng - chuyên gia về chăn nuôi đã đến Triệu Phong. Đoàn được đồng chí Văn Viết Hoá (lúc đó là PCT UBND tỉnh) và các đồng chí trong UBND huyện nhiệt tình ủng hộ cùng đi đến hiện trường vùng cát hoang vắngchỉ có cỏ lơ thơ và cây mua cằn cỗi, mọc lác đác. Vậy làm sao để phát huy tiềm năng vùng đất cátgiúp bà con nông dân sản xuất được lương thực thực phẩm, nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng vườn cây ăn quả và tạo bóng mát? Ta có câu, muốn sống thịnh vượng thì cộng đồng dân cư phải có “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”. Cả hai vế “thiên thời, địa lợi” đều không có, nắng gắt, cát khô nóng, gió lộng may chỉ có “nhân hoà”, bà con nông dân ở Quảng Trị đã cùng nhau đoàn kết, chịu mọi hy sinh để có thể vượt qua gian khổ.

Cây được trồng trên cát tại Gio Mỹ, Gio Linh.
Cây được trồng trên cát tại Gio Mỹ, Gio Linh.
Bài toán mà đoàn nghiên cứu đặt ra lúc đó là: Phải tiêu bớt nước mùa mưa, phải đào mương lấy đất lên liếp để trồng cây tránh cho rễ khỏi bị nước úng. Các dải cây phải có bóng cả sáng vàchiều, làm giảm nhiệt độ của cát. Mật độ các dải cây phòng hộ phải tính sao để cản được gió mà không gây gió xoáy, cự ly các dải cây phải được tính toán sao cho vào lúc gần trưa và xế chiều bóng câyche nhiều diện tích mặt đất. Đất cát rời rạc giữ nước kém, nước thấm qua xuống sâu kéo theo chất dinh dưỡng. Vậy là phải chọn cây phòng hộ để giữ nước cho đất. Qua nhiều năm, một số lâm trường đãtrồng cây phi lao làm đai phòng hộ có hiệu quả, rễ có nấm cộng sinh làm giàu đạm cho đất, lá rụng nhiều tạo ra mùn là nguồn giữ nước và đạm tích luỹ, hai yếu tố cần cho cây trồng. Gần đây bà con nôngdân đã trồng một số loài cây keo mọc khá nhanh rụng lá cũng nhiều.

Từ những bài học đó, các nhà khoa học giàu tâm huyết và tri thức đã đề xuất: Đào mương sâu 1m, rộng 2m đắp đất thành bờ cao 1m, rộng 2m. Trên bờ đất, trồng cây phi lao xen cây keo lá tràm, chiều cao và bề rộng liếp phải được tính toán sao cho cây phi lao và cây keo, khi đã cao 4m - 5m phát huy đầy đủ vai trò phòng hộ thì rễ mớixuống đến đáy mương, nghĩa là rễ không bị nước mùa mưa úng cắt đứt. Cự ly các dải cây phòng hộ phải được thiết kế sao cho sau một năm cây cao 1m hay 1m50, bóng phải che được một phần mặt đất giảm sức đốt nóng của mặt trời, để bà con nông dân có thể trồng cây nông nghiệp. Cự ly các dải lúc đầu là 3m. Khi cây phòng hộ cao lên, bóng dài ra thì chỉ để lại hai dải hai bên. Làm sao có được bóng cả sáng lẫn chiều cũng là một yêu cầu cần cho bản thiết kế. Ta biết mặt trời đi từ Đông sang Tây, các dải cây phải đặt song song theo hướng Bắc Nam .

Bản thiết kế được xây dựng trên những ý kiến đóng góp của những khoa học hàng đầuvà đưa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo cho việc cải thiện môi trường có hiệu quả cao nhất. Nhưng việc khó hơn là phải tính sao cho việc thực hiện tốn kém ít nhất vì kinh phí rất hạn hẹp. Đây là mô hình đầu tiênđược thiết kế cho nên sự thành công còn phụ thuộc vào bà con nông dân về cả hai mặt phát huy được tri thức bản địa và lòng quyết tâm thắng sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Ban đầu bà con chỉ trồng được những cây lương thực thực phẩm chịu khô hạn và đất nghèo dinh dưỡng (ngô, đậu, vừng, lạc..). Vùng đất cát xã Triệu Vân có mạch nước ngọt cách mặt đất 2-3m. Đó là tài nguyên quý giá mà bà con biết khơi dậy làm giếng khoan tiện lợi và rẻ tiền. Một số hộ đào ao trữ nước ngọt nuôi trồng thuỷ sản.

Với quyết tâm của các nhà khoa học, ý chí và sức mạnh của cộng đồng, vùng cát bỏ hoangđã lâu đời đã “lột xác”, trở thành làng sinh thái Triệu Vân. Cảnh đói nghèo đã bị đẩy lùi và sự thịnh vượng đã đến khá nhanh, vượt trí tưởng tượng của người dân và dự đoán của các nhà khoa học. Ông cha ta có câu: “Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền”. Ở vùng đồng bằng không phải nơi nào cũng có thể xây dựng vườn cây, đào ao thả cá. Vậy mà chính ở vùng đất hoang mạc này gia đình nào cũng có thể có ao, có vườn và có cả đất trồng lúa. Sau 3 năm trở lại làng sinh thái Triệu Vân ai cũng ngạc nhiên về sự biến đổi kỳ diệu và ngày nay trên vùng đất cát này có nhiều loài cây lương thực, thực phẩm hơn ở vùng châu thổ. Đặc biệt những loài cây có củ và những loài cây lá cứng phát triển rất tốt tạo ra nhiều loại sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.

Làng sinh thái Triệu Vân là sự khởi đầu cho lòng tin và quyết chí xây dựng các làng sinh thái trên vùng đất cát để chứng tỏ rằng nhân dân ta đã làm chủ được các hệ sinh thái cát và kinh nghiệm đó có thể giúp các nước chinh phục sa mạc, góp phần xoá đói giảm nghèo.

Để rồi từ đây cứ thế thầm lặngvà miệt mài, GS Trương cùng với các đồng sự đã tìm đến những nơi mà sự sống khó bề phát triển, vùng đất trũng ngập quanh năm ở Phú Điền, Nam Sách, Hải Dương; vùng cát khô hạn ven biển Cảnh Dương, Hải Thủy, Thanh Thủy, tỉnh Quảng Bình, Kim Lư, Na Rì, tỉnh Bắc Cạn..., biến chúng thành những làng sinh thái trù phú.

Xem Thêm

Tin mới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước
Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp.
Đắk Lắk: Đánh giá kết quả vòng sơ khảo Cuộc thi lần thứ I
Chiều ngày 15/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Hội đồng Giám khảo Vòng chung khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ I năm 2026 tổ chức họp đánh giá kết quả chấm điểm vòng sơ khảo và thống nhất phương án xếp giải. Cuộc họp được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, với sự tham dự của các thành viên Hội đồng Giám khảo.
Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031
Chiều 14/9, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã tiến hành phiên trọng thể. Bà Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Hàng triệu dữ liệu khoa học, công nghệ quốc gia được chia sẻ chung trên một nền tảng
Hệ thống bước đầu hội tụ khối lượng lớn dữ liệu, gồm thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, nhân lực khoa học và công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ; cùng hàng triệu dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các hệ thống nghiệp vụ của Bộ như sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng...
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt
Sáng ngày 11/9, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Lâm Đồng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Đại học Thủy lợi - Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng Miền Trung tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu”.
Vĩnh Long: Trao 110 giải thưởng Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng
Sáng ngày 11/9/2026, tại Hội trường UBND tỉnh Vĩnh Long, Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tạo dành cho Thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh tổ chức Hội nghị Tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ I (năm học 2025–2026) và chính thức phát động Cuộc thi lần thứ II. Hội nghị do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (cơ quan Thường trực Ban Tổ chức) phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan thực hiện.
Gia Lai: Đẩy mạnh tham vấn chuyên sâu và giám sát liên ngành các hoạt động của PanNature
Nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức KH&CN trực thuộc và thúc đẩy phát triển lâm nghiệp bền vững, tỉnh Gia Lai ghi nhận chuỗi hoạt động quan trọng của Trung tâm Con người và Thiên nhiên: Từ Hội thảo tham vấn chuyên gia đa bên ngày 08/09/2026 đến đợt giám sát liên ngành thực địa của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) trong hai ngày 11 và 12/9/2026.
Liên hiệp Hội các tỉnh, thành phố: Phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ giải quyết các bài toán thực tiễn tại địa phương
Hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh, thành phố thời gian qua ngày càng bám sát yêu cầu phát triển và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Thông qua tư vấn, phản biện chính sách, chuyển giao khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp thiết thực, góp phần đưa tri thức khoa học vào đời sống, phục vụ phát triển KH-XH tại địa phương.