Từ trường Viễn đông Bác Cổ xưa
Thời kỳ đầu, hiệu trưởng trường Viễn Đông Bác Cổ do toàn quyền bổ nhiệm. Các nghiên cứu viên thường trực của trường đều là những nhà nghiên cứu Đông Phương học, khảo cổ học. Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu viên danh dự (không chính thức biên chế của trường). Hầu hết đều là những người châu Âu. Có một số người châu Á, người Việt Nam làm việc ở trường với vai trò trợ lý. Nhiệm vụ cơ bản của trường Viễn Đông Bác Cổ là nghiên cứu, phát hiện, khai quật các di chỉ khảo cổ; ngăn cấm việc đào bới, làm tổn hại đến các di tích và ngăn cấm buôn bán ra nước ngoài các loại cổ vật.
Để giúp cho việc nghiên cứu, ở trường Viễn Đông Bác Cổ có một thư viện rất quý với hơn bốn mươi ngàn đầu sách. Trong đó, có hơn ba trăm đầu sách in từ thế kỷ trước, rất quý hiếm, bằng các thứ tiếng: Pháp, Trung Quốc, Nhật; có những sách chép tay bằng chữ Lào, Campuchia; và có nhiều bản dập văn bia cổ chữ Hán và chữ Phạn cổ... Các nhà nghiên cứu của Viễn Đông Bác Cổ làm việc rất hiệu quả. Những công trình nghiên cứu của họ được đăng giới thiệu trên tờ Tạp chí trường Viễn Đông Bác Cổ xuất bản mỗi tháng một kỳ. Những công trình khảo cứu của trường Viễn Đông Bác Cổ giúp thế giới hiểu ra nhiều giá trị truyền thống ở Việt Nam nói riêng và ở Đông Dương nói chung. Các di tích được trường Viễn Đông Bác Cổ nghiên cứu xếp hạng rất nhiều: 1200 di tích trong vòng bốn thập kỷ ! Trong đó, những di tích tiêu biểu như Ngọc Sơn, Trấn Quốc, chùa Một Cột, đền Bạch Mã, chùa Hương, chùa Phật Tích, chùa Trầm v.v... Văn Miếu được trùng tu lớn năm 1918 đến năm 1920. Phát hiện và khai quật di chỉ Đông Sơn là phát hiện tầm cỡ thế giới. Những cuộc khai quật ở làng cổ Đông Sơn năm 1924 đến 1928 khiến giới khoa học quốc tế thấy được một nền văn minh rực rỡ của Việt Nam hơn hai ngàn năm trước. Và, những cuộc khai quật các di chỉ Mỹ Sơn, Trà Kiệu cho thấy sự đa dạng và sâu dày của các nền văn hoá khu vực của cộng đồng một số dân tộc trên đất nước Việt Nam . Rồi các đền, tháp ở Nha Trang, ở Phan Rang... được trùng tu giữ gìn. Qua nhiều năm nghiên cứu, phát hiện, khai quật và sưu tầm các di vật, đã thu được rất nhiều di vật quý, có giá trị khoa học cao. Do vậy, đòi hỏi phải có nơi trưng bày, tàng trữ. Và giám đốc trường Viễn Đông Bác Cổ, ông Louis Finot, là người đền nghị lên toàn quyền Đông Dương cho lập Nhà bảo tàng.
Đến tháng 2 năm 1925, toàn quyền Marlin đã phê duyệt đề án lập Bảo tàng. Và tới tháng 11 năm 1925, ông Monguillot lên thay thế Merlin, đã thông qua dự án, thiết kế và cho phép xây dựng Bảo tàng từ tháng 1 năm 1925. Hai kiến trúc sư E.Hébrad và C.Batteur thiết kế và được giao trách nhiệm chỉ huy thi công. Đây là một công trình kiến trúc khá đặc sắc và mang phong cách Á Đông. Toạ lạc trên một khuôn viên đẹp, tiền sảnh nhìn ra phố Pháp Quốc (nay là phố Tràng Tiền), toà nhà 3 tầng, mái lợp ngói nhiều lớp. Lối vào sáng và mát, một hành lang rộng dẫn vào toà nhà xây hình bát giác, trên thu vào như một tầng tháp. Những hàng lan can, xà và cột làm bằng bê tông nhưng mềm mại, thanh thoát. Cuộc xây dựng nhà bảo tàng kéo dài 6 năm trời, bởi đây là thời gian khủng hoảng kinh tế trầm trọng, nhiều lúc thiếu kinh phí, công trình phải tạm dừng. Cho đến ngày 17-3-1932 mới khánh thành nhà Bảo tàng, toàn quyền Đông Dương khi đó là Pierre Pasquier trực tiếp chủ lễ khánh thành. Tất cả mọi người đều rất vui mừng trước công trình này. Tầng dưới, như một tầng hầm, nhưng các cửa kính xung quanh vẫn đủ cho ánh sáng rọi vào. Tầng này lưu giữ những hiện vật cổ nhất. Tầng hai và tầng ba có nhiều tủ kính bày các hiện vật cổ, trung cổ và cận đại. Chính những đồ vật cổ được đưa về bày ở đây từ những ngày đầu tiên đã cho thấy sức lao động sáng tạo và tinh thần dựng nước, giữ nước của các dân tộc Việt Nam nói riêng và các dân tộc ở Đông Dương là vô cùng sâu xa, vô cùng mạnh mẽ.
Là nhà bảo tàng đầu tiên ở nước ta, cũng là đầu tiên của Đông Dương, nên các chủng loại hiện vật rất đa dạng, phong phú. Đặc biệt là những di vật quí về văn hoá, nghệ thuật, như pho tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp, tượng A Di Đà chùa Phật Tích, tượng Kim Cương chùa Đọi, tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương... Đó là những sáng tạo đỉnh cao của tài hoa người Việt ! Bảo tàng từ thời đó đã chiếm được lòng yêu quí của mọi người. Rồi dân chúng không gọi dài dòng: Bảo tàng của trường Viễn Đông Bác Cổ, mà gọi rất vắn tắt, rất thân gần: Nhà Bác Cổ.
Nhà Bác Cổ thời trước có gian trưng bày những di vật của Lào, di vật Campuchia, di vật Xiêm (Thái Lan), những di vật tượng bạc, tượng đá... Có Gian trưng bày về Ấn Độ, về Tây Tạng với những tượng đồng mạ vàng và những điêu khắc đá rất đặc sắc. Về Trung Quốc, có bày những đồ gốm sứ. Về Nhật Bản, có bày những thanh gươm cổ cùng những áo Kimônô... Tóm lại, Nhà Bác Cổlà một pho lịch sử lớn bằng hiện vật cho người ta biết được cội nguồn cuộc sống không riêng của Việt Nam , mà cả khu vực Viễn Đông. Ai muốn vào xem Nhà Bác Cổ cũng được, không phải trả tiền. Nhà Bác Cổ của Hà Nội, ngay từ thời đó, đã thực sự là một địa chỉ văn hoá lớn, là niềm tự hào của Hà Nội. Đến khi ông Louis Finot qua đời, Hội đồng thành phố đã cho gắn tấm biển đồng, ghi tên ông, người có công xây dựng Nhà Bác Cổ. Theo thời gian, cuộc sống lại ghi nhận thêm những công trình thực sự đóng góp cho Nhà Bác Cổ. Đó là các học giả, nhà khảo cổ lớn, như F.Heger, Parmantier, Paul Mus. V.Golowbev, M.Colani... và những trợ lý đã vươn lên đỉnh cao khoa học và lao động sáng tạo, đó là các học giả Nguyễn Văn Tố, Nguyễn văn Huyên, Trần Văn Giáp...
Cho đến khi chiến thắng hoàn toàn thực dân Pháp, Chính phủ ta trở lại thủ đô, rồi tháng 3 năm 1958 Nhà Bác Cổ được chính thức mang tên Bảo tàng lịch sửthuộc sự quản lý của Bộ Văn hoá. Các gian trưng bày được xắp xếp, chỉnh lý lại theo chủ đề lớn là truyền thống văn hoá và chống ngoại xâm của nhân dân ta. Những hiện vật mang tính Viễn đông được kiểm kê toàn bộ, đưa vào kho lưu giữ. Bảo tàng lịch sử, toà kiến trúc duyên dáng , cổ kính với phong thái Phương Đông, tại số 1 phố Tràng Tiền, Hà Nội, hơn bốn mươi năm qua được bạn bè quốc tế và nhân dân trong cả nước coi là pho lịch sử bằng hiện vật của cộng đồng các dân tộc Việt nam từ thuở ban đầu khai sáng đến khi ra đời nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà (1945). Trong lòng người Hà Nội vẫn còn ủ kín một cái tên gọi thân thiết từ hơn nửa thế kỷ trước, Nhà Bác Cổ.Đôi khi, thật tự nhiên, người Hà Nội rủ nhau: “Đi xem Nhà Bác Cổ đi !”. Ấy là lúc người ta muốn xem pho lịch sử bằng hiện vật của các dân tộc Việt Nam , thấy được lịch sử đất nước, và cũng thấy được hơn trăm năm qua: Viễn Đông bác Cổ xưa đến Bảo tàng Lịch sử hôm nay, tại Hà Nội.








