Tự do hóa thương mại và ngành chăn nuôi Việt Nam
1.1.Toàn cầu hóa
1.1.1.Khái niệm.
Toàn cầu hóa (Globalization) là khái niệm để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thề giới, tạo bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế…trên quy mô toàn cầu.
Toàn cầu hóa cũng có nghĩa là sự hình thành nên một ngôi làng toàn cầu, dẫn đến một nền văn minh toàn cầu. Trong đó bao gồm các công dân thế giới.
1.1.2. Lược sử.
Toàn cầu hóa đã trải qua 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1:
Toàn cầu hóa theo nghĩa cổ điển, đã bắt đầu vào khoảng thể kỷ 15 sau khi có những cuộc thám hiểm hàng hải quy mô lớn cũng như việc xuất hiện các trục đường trao đổi thương mại giữa các châu lục với nhau.
- Giai đoạn2:
Bắt đầu từ giữa thế kỷ 19 (1850-1880), thời kỳ bắt đầu dùng vàng làm tiêu chuẩn của hệ thống tiền tệ (bản vị vàng). Đặc trưng của thời kỳ này là giá cước giao thông (đi lại, vận chuyển) giảm một cách nhanh chóng, làm cho thế giới từ “cỡ lớn” trở thành “cỡ trung” (nhưng thế giới vẫn là tròn).
Toàn cầu hóa rơi vào thoái trào khi bước vào chiến tranh thế giới lần thứ nhất và sau đó sụp đổ hẳn khi xảy ra khủng hoảng bản vị vàng vào cuối những năm 1920 và dầu những năm 1930.
- Giai đoạn 3:
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, thương mại quốc tế đã tăng trưởng đột ngột. Thuật ngữ “toàn cầu hóa” đã được xuất hiện vào những năm 1950. Từ thập kỷ 1970, tác động của thương mại quốc tế ngày càng rõ rệt. Trong thời kỳ này đã xuất hiện GATT (Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại), AFTA (hiệp ước mậu dịch tự do), NAFTA (Hiệp ước mậu dịch tự do Bắc Mỹ) …
- Giai đoạn 4:
Bắt đầu từ những năm 1990 của thế kỷ trước (TK 20 đến nay), quá trình toàn cầu hoá xảy ra rõ rệt nhất. Đặc trưng của thời kỳ này là giá cước viễn thông (thông tin liên lạc) cũng giảm một cách nhanh chóng làm cho thế giới từ “cỡ trung” trở thành “cỡ nhỏ”(và thế giới trở thành phẳng).
1.1.3. Dấu hiệu.
Dấu hiệu chung của toàn cầu hóa là lưu thông quốc tế ngày càng tăng đối với hàng hóa, tiền tệ, thông tin. Cụ thể là:
- Về kinh tế:
Giảm hoặc cắt bỏ hẳn các loại thuế quan, gia tăng thương mại quốc tế. Gia tăng đầu tư quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp từ nước ngoài; gia tăng thị phần thế giới của các tập đoàn đa quốc gia. Đề cao việc bảo vệ sở hữu trí tuệ. Phát triển các hệ thống tài chính quốc tế.
- Về văn hóa:
Gia tăng trao đổi văn hóa quốc tế. Mặt khác dễ dàng làm mất đi tính đa dạng văn hóa trên thế giới. Phát triển hạ tầng viễn thông toàn cầu.
- Về xã hội:
Gia tăng vai trò của các tổ chức quốc tế. Mặt khác dễ dàng làm mờ đi ý niệm chủ quyền quốc gia và biên giới lãnh thổ. Gia tăng việc đi lại và du lịch quốc tế (bao gồm cả việc nhập cư trái phép). “Nạn chảy máu chất xám” diễn ra nhiều và dễ dàng kéo theo nạn “Săn đầu người”. Con người chú ý hơn đến những vấn đề có ảnh hưởng toàn cầu như các vấn đề trái đất ấm dần lên, khủng bố …
1.1.4. Ủng hộ và phản đối.
Từ trước tới nay vẫn có hai loại ý kiến: ủng hộ và phản đối toàn cầu hóa:
- Ủng hộ:
Toàn cầu hóa là yếu tố dẫn đến sự phát triển kinh tế cho số đông, thế giới sẽ làm ra của cải vật chất ở mức độ cao hơn, do đó tạo ra một thế giới đi nhanh.
Toàn cầu hóa là hình thức để phổ biến nền dân chủ.
- Phản đối:
Toàn cầu hóa chỉ đem lại lợi ích cho những người giàu, ít mang lại lợi ích cho người nghèo.
Toàn cầu hóa là sự lan rộng của chủ nghĩa tư bản từ các quốc gia phát triển. Các tập đoàn tài chính dần dần hình thành nên các chính sách của các quốc gia.
1.2. Tổ chức thương mại thế giới.
1.2.1. Khái niệm.
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO) là một tổ chức quốc tế để thực hiện các mục tiêu sau:
- Về kinh tế:
Thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ. Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý…). Giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các thành viên theo các quy định đã thỏa thuận, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản và công pháp quốc tế và luật lệ của WTO.
- Về xã hội:
Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho người dân. Phát triển xã hội một cách bền vững và bảo vệ môi trường.
1.2.2. Lược sử.
Quá trình hình thành WTO có thể chia làm 3 giai đoạn.
- Giai đoạn 1:
Tổ chức thương mại quốc tế (International Trade Organization - ITO) được thành lập năm 1944. Nhưng một số nước, trong đó có Hoa Kỳ, không phê chuẩn hiến chương này.
- Giai đoạn 2:
Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại (Geneval Agreement on Tarriffs and Trade – GATT) được thành lập từ năm 1950 và tồn tại trong 50 năm.
- Giai đoạn 3:
Tổ chức thương mại thế giới được thành lập năm 1994 sau vòng đàm phán tại Uruguay và chính thức ra đời vào ngày 1 tháng 1 năm 1995.
Hiện nay WTO đã có 150 thành viên (Việt Nam là thành viên thứ 150).
Cơ cấu tổ chức của WTO bao gồm 4 cấp:
- Cấp cao thứ nhất: Hội nghị bộ trưởng.
- Cấp thứ hai: Đại hội đồng.
- Cấp thứ ba: Các ủy viên Hội đồng thương mại.
- Cấp thứ tư: Các ủy viên và cơ quan.
1.2.3. Chức năng.
WTO có 6 chức năng:
- Giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia.
- Quản lý việc thực hiện có các hiệp ước của WTO.
- Diễn đàn đàm phán về thương mại.
- Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện các nước đang phát triển
- Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác.
1.2.4. Nguyên tắc họat động.
WTO hoạt động theo 4 nguyên tắc:
- Không phân biệt đối xử.
Đãi ngộ quốc gia (NT): không được đối xử với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài cũng như những người kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ đó kém hơn mức đãi ngộ dành cho các đối tượng tương tự trong nước.
Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): các ưu đãi thương mại của một thành viên dành cho một thành viên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành viên trong WTO.
- Tự do mậu dịch hơn nữa thông qua đàm phán.
- Rõ ràng, minh bạch và dễ đoán: các quy định và quy chế thương mại phải được công bố công khai và thực hiện một cách ổn định.
- Thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và thương mại giữa các thành viên.
- Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển trong khuôn khổ định chế của WTO.
Nguồn: T/C Chăn nuôi, 6/07, tr 31.








