Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 24/04/2006 14:21 (GMT+7)

Từ ẩm thực, nhận diện về một truyền thống Thái

Như hầu hết các dân tộc ở nước ta, lương thực chính trong bữa ăn của người Thái là cơm (nấu từ gạo). Nhưng khác với nhiều dân tộc anh em, cơm của đồng bào Thái là xôi (đồ từ gạo nếp). Họ vốn tự gọi mình là tay kháu nứng(người cơm nếp đồ) để phân biệt với các dân tộc ăn cơm tẻ. Ngay cả từ biểu thị sinh hoạt ăn uống là kin kháucũng có sự phân biệt đó. Nếu am hiểu ngôn ngữ và văn hoá cổ truyền Thái thì dễ dàng nhận thấy ra trong từ ghép này kháuvừa là tên chung, vừa là tên riêng, vì từ gọi chung lương thực là kháu(như cây lúa: cỏ kháu; ngô: kháu li; kê: kháu pháng…), mà kháu cũng là cơm nếp, nói tắt từ từ chỉ cơm nếp là kháu đi. Đi có nghĩa là tốt, người Thái quan niệm gạo nếp mới là thứ gạo tốt để nuôi người.

Từ quan niệm đó, người Thái không hay dùng gạo tẻ làm cơm. Họ cho rằng ăn gạo tẻ chóng đói, không đủ sức để lao động cả ngày ngoài trời. Vì thế mà người Thái đã lựa chọn được rất nhiều giống lúa nếp ngon cấy dưới ruộng. Chả thế mà ngay trong đoạn mở đầu Quám tô mương(Chuyện kể bản mường) đã có câu: Từ khi loài người ở trần gian đã có 330 giống lúa dưới ruộng. Sau, người Thái còn du nhập thêm nhiều giống nếp cạn trồng ở rẫy. Thói quen dùng gạo tẻ làm lương thực chính thì mãi sau này mới có. Sự bùng nổ dân số buộc họ phải thay đổi thói quen, du nhập các giống lúa tẻ cho năng suất cao (ngày nay còn là các giống lúa lai) thay thế các giống nếp năng suất thấp. Bằng chứng là ngay trong tên gọi giống tẻ đã biểu thị sự du nhập rồi. Có hai cách gọi là sẻvà chăm. Gọi sẻlà biến âm từ tẻ, biểu hiện sự du nhập từ người Việt. Gọi Chăm, có lẽ xuất phát từ tộc danh Chăm, đất Chăm Pa, biểu thị sự du nhập giống lúa này từ người Chăm, bởi đất Cham pa xưa được coi là quê hương của các giống tẻ.

Sự thay đổi thói quen xuất phát từ nhu cầu thực tế của đời sống, là bắt buộc, nhưng thói quen dùng xôi như cơm thì ở người Thái cho đến nay vẫn còn rất đậm nét. Đồng bào dùng xôi cho cả ngày, ngoài việc làm bữa còn là “nguyên liệu” để làm bánh, ăn chơi lót dạ. Người Thái có đến 5 món xôi nướng mang tên khác nhau: lam ho, mỏ, vi, ống, pók khẻn. Ngoài ra còn có món xôi cặp ( bái kháu) với nhiều loại thực phẩm (trứng, cá, nhộng ong, thịt, ruốc…) và món xôi nhào bóp, giã hoà quyện với thức ăn ( kháu léc) thường là vừng.

Xung quanh món xôi của người Thái có nhiều ứng xử lý thú: Gạo nếp ngâm, đổ vào chõ ninh lên thành xôi ( nứng kháu). Xôi chín đổ ra mâm làm bằng tấm gỗ ( phá kháu) để quạt cho ráo hơi mới cho vào vật đựng. Con người phải làm việc đó hàng ngày nên quạt xôi đã trở thành khái niệm tượng trưng cho cuộc sống, chỉ có khi về nơi “ cực lạc vĩnh hằng” ở Mường Then ( mường trời) mới không phải làm việc ấy nữa, vì thế mới có câu: Đổ chõ xôi ra mâm không phải quạt…

Sinh ra trong môi trường thung lũng, ngoài mở mang những cánh đồng lòng chảo để phát triển lúa nước, người Thái còn khai thác rất nhiều loài sinh vật khác để làm thực phẩm. Cho nên cái ăn chính thứ 2 của đồng bào cũng rất độc đáo, bao gồm các loại rau có sẵn trong tự nhiên, rễ, lá, củ, quả, măng, chồi, búp, vỏ, lộc, ngọn, nấm, rêu và gần nó là các loại côn trùng nhuyễn thể (thân mềm) và cá. Khi tìm hiểu về cách chế biến các món ăn, người ta dễ dàng nhận ra tộc người này có sở trường về các món nướng. Đặc biệt là cá và loài nhuyễn thể, nướng là đặc trưng của ẩm thực Thái, biểu hiện văn hoá Thái rõ rệt nhất.

Côn trùng và loài nhuyễn thể muốn nướng phải gói ghém lại bằng lá tươi (lá dong, lá chuối), hơ than nóng hoặc vùi dưới tro. Nên thường thì người ta không gọi là chi(nướng) mà gọi là pho. Từ cách gọi này dẫn đến một loại thức ăn rất quen thuộc có tên pho. Món phođược làm từ tôm, cua, cá, ếch, nhái, trứng chim, các loại côn trùng, nhuyễn thể tuỳ loại và tuỳ sở thích. Có thể trộn vừa muối rồi thêm rau thơm, mùi, sả, gừng, hành (hoặc tỏi), ớt, mạk khen… gói vào lá. Có một điều lạ là khi món ăn này không được phomà đồ thì vẫn tên là pho.

Nhắc đến món phothì không thể không nhắc đến một món ăn khác nữa có tên là mộk, có nghĩa là gói ghém lại đem vùi trong tro than nóng. Theo đúng cách gọi này, món mọkđược chế biến như sau: nhộng, tôm, tép, ếch, nhái, cá con, cũng có thể là nấm, rong, rêu (tau cay)… đem trộn với bột nếp giã thô ( kháu bưa), bỏ thêm gia vị, rồi gói vào lá chuối hoặc lá dong đem vùi dưới tro nóng. Cũng giống như món pho, khi không mộknữa mà đem đồ thì vẫn có tên là mọk. Đây là một nét rất đặc biệt, nhưng không phải ai cũng hiểu được. Với người Thái, đồ cũng chỉ là một dạng khác của nướng (dĩ nhiên là cao hơn). Dân tộc này đã đi từ nướng đến đồ, các dân tộc khác không có khái niệm như vậy (người Việt chẳng hạn, từ nướng đi tới luộc). Từ đó mà hễ có món nướng nào thì cũng có món đồ ấy.

Ngoài đồ cá, thịt ra, người Thái còn đồ rau với hàng trăm loại khác nhau được trồng hay mọc tự nhiên. Chính việc đồ rau đã sinh ra món chéo đặc trưng trong mâm cơm của người Thái (như nước mắm của người Việt). Chéo được làm từ nhiều nguyên liệu khác nhau phù hợp với từng loại thịt, rau và thức ăn tươi hay chín. Chẳng hạn chéomạk - khendùng chấm măng, các loại củ, quả rừng, cheo bỏn khổ chấm rau quả tươi, cheo tả sơchấm thịt, cá nướng, cheo khinh chơchấm rau quả trồng…

Xung quanh những cách chế biến trên cho thấy, vật dụng quan trọng nhất trong bếp của người Thái là chiếc chõ ( hay nứng). Xung quanh vật dụng này cũng có những điểm khá thú vị. Vì là vật sử dụng hàng ngày nên chiếc chõ đã trở thành “biểu tượng” cho một gia đình ( hua hươn), khi tác khẩu, nghĩa là có cưới gả, có tục bên chú rể phải đến “bỏ trầu” là một gói gồm cau trầu, gà luộc vào chõ của bên cô dâu. Chõ còn được nâng lên trở thành “vật cấm kị”, sử dụng phải đúng chức năng. Đồ xôi có hay nứng kháulàm từ thân cây gỗ; đồ râu có hay nứng phắclàm từ cây bương. Vì thế mà còn có quan niệm nếu đem cây rau dớn ( cút nậm) trộn với cây guột ( cút bốc) mà đem đồ thì thế nào cũng bị sét đánh. Còn như muốn hại ai thì đem áo người đó bỏ lên đồ, làm như thế người ta tin rằng thể nào đối tượng cũng sẽ chết nhuộm máu.

Trở lại với các món ăn. Ngoài các món rau hay rau con ra, còn món quen thuộc nữa là các món cá, người Thái đã nâng món cá lên ngang tầm với lúa gạo. Tục ngữ có câu biểu hiện một vùng kinh tế sung túc như: “Lúa ở ruộng, cá ở nước” ( Kháu du na, pa du nặm), hay “Miếng cơm trắng, khúc cá bạc” ( Kháu đon, ton pa khảo), hay tiếp đón bạn bè như “Đi ăn cá, về nhà uống rượu” ( Pay kin pa, ma kin láu)…

Người Thái có nhiều cách chế biến cá, cả ăn sống và ăn chín. Nếu ăn chín thì hấp dẫn hơn cả vẫn là cá nướng, món có tên là pa píng tộp(cá nướng gập). Tuy nhiên, món cá đặc trưng nhất lại là ăn sống. Người Thái gọi ăn cá sống là ăn kỏi. Có 2 món kỏi: Món thứ nhất có tên là kỏi sinh câm(gỏi cá sinh cầm). Lựa những con cá chép vừa bằng ngón tay, đem về rửa sạch. Còn nước chấm gỏi làm từ nước măng chua, có hoà lẫn vừng, cá nướng băm thật nhỏ. Khi ăn, cho cá vào tô nước chấm, để cá tái đi trong vị chua, gắp ăn ghém với các loại rau thơm, hoa chuối thái lát mỏng, lá cây dổi, cây me tròn… Món thứ hai có tên là kỏi hắn(gỏi Thái). Cá to đem lọc lấy thịt hai bên sườn, lấy giấy bản, thấm sạch nhớt, thái thành lát mỏng, rồi mang ra dùng với nước chấm và các loại rau ăn ghém như kỏi sinh câm.

Kỏi là âm Hán - Việt, du nhập từ người Việt. Ngay cả tên gọi kỏi sinh câmcũng là gọi theo âm Hán - Việt (gỏi cá sinh cầm). Đây là một điều rất lạ, bởi chắc chắn các món ăn này không phải du nhập từ người Việt rồi vì trong tiềm thức, tâm linh của dân tộc này đã có món gỏi rồi. Trong các lễ mừng lúa mới ( kháu maư), mùa cốm mới ( kháu máu) được coi là các dịp sinh hoạt tưởng nhớ đến đời sống xa xưa của tổ tiên, tưởng nhớ tổ tiên thường kèm theo nghi thức ăn gỏi. Tại sao lại có sự vay mượn như vậy. Trong tiếng Thái, sống, món sống được gọi là xa. Nhưng theo tâm linh của dân tộc này nếu gọi là ăn xa thì không ổn. Họ quan niệm tổ tiên xa xưa của con người khi còn sống hoang dã toàn ăn xa. Cũng có một lớp tổ tiên rất gần ăn xa là “cộng đồng đẳm” (khối cộng đồng đẳm là những anh em trai có chung một đời kị. Cùng ăn xa còn có các loại thần linh, ma quỷ chuyên gây hại cho con người như phi phông, sngạn, và những thần linh trong tự nhiên như phi phượk… Người đang sống cúng xa khi bị làm hãi, bởi quan niệm ốm đau, bệnh tật, kể cả chết chóc cũng do tổ tiên và các thần linh, ma quỷ gây nên. Do kiêng kị mà người sống tránh nhắc đến từ ăn xa, và đã mượn cách gọi của người Việt để gọi món ăn truyền thống của dân tộc mình.

Một bữa ăn lý tưởng trong các gia đình người Thái gồm có cơm (xôi), rau hay rau con và cá. Từ đó mà xuất hiện 2 món canh có tên là kenh bưa và kenh ột/tột. Nhiều người đã biết đến các món này vì đã có ở các nhà hàng đặc sản và các bữa cơm đãi khách của người Thái. Tuy nhiên, nguyên liệu (chất tanh) đã được thay thế bằng thịt gà, cá nướng, trở nên rất sang trọng, hấp dẫn. Đây chính là món “ngoé ôm măng” một thời người ta nhắc đến để ghê. Nguyên liệu để chế biến các món này gồm rau hoặc măng thái nhỏ, gạo nếp giã thô ( kháu bưa), chất tanh là cá con, côn trùng, nhuyễn thể hay các loại thú rừng nhỏ như chim, sóc, chuột, don… và các loại gia vị đặc trưng như mạk khen, bỏn khổ. Nếu kenh bưathì chất tanh là cá, thú, rau. Còn kenh ộtchất tanh nhất thiết phải là côn trùng, nhuyễn thể, nòng nọc, ếch, nhái…, rau thì được thay bằng măng.

Mỗi khi ăn những bữa ăn có hai món ăn như thế, nhiều người Thái không ngớt khen ngon và đệm theo câu: “Kháu mệt kháu hạc ma/ Pa mệt pa hạc táu/ Ken kháu to mạk phặc/ Thút phặc to khoăn hắm”(Lúa hết lúa tự đến/ Cá hết cá tự lại/ hạt thóc bằng quả bí/ Ngọn rau dùng rìu chặt) để tưởng nhớ về mường gốc là mường Then/Thanhhuyền thoại với điều kiện tự nhiên dễ dàng cho khai thác các sản phẩm để có cơ cấu: xôi-rau-cá.

Nguồn: Dân tộc & Thời đại, số 88, 3/2006, tr 2-4

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.