Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 15/09/2009 15:32 (GMT+7)

Truyền thuyết về cột đồng Mã Viện ở núi Lam Thành là hoang đường

Theo sử sách Trung Hoa trước đây thì có 7 cột đồng đã được 5 người dựng lên: Mã Viện và Mã Tổng mỗi người dựng 2 cột. Hà Lý Quang, Trương Chu, Mã Hy Phạm mỗi người dựng một cột (có sách chỉ ghi tổng số cột đồng đã dựng là một, hai hoặc năm cột).

Về địa điểm dựng đặt cột đồng thì các sách thường ít thống nhất với nhau:

Lương sử, Tuỳ sử, Đường sửđều chép cột đồng dựng ở nơi xa xôi nhất, đó là Lâm Ấp.

Nhất thống chí đờiMinh lại chép cột đồng dựng ở Cổ Lâu (có sách ghi là Cổ Xâm) thuộc Châu Khâm.

Nhất thống chí đờiThanh chép: “Cột đồng một cái ở Hữu giang, phủ Nam Ninh; một cái ở Tả giang phủ Thái Bình; một cái ở động Cổ Xâm, Châu Khâm; một cái ở phía nam châu Bằng Tường đều là từ đời Tống”.

Quảng Châu kýchép cột đồng dựng ở Kiều Nam , có sách chép cột đồng dựng ở Châu Khê, lại có sách chép cột đồng dựng ở núi Phân Mao.

Như vậy các nhà viết sử Trung Quốc thời phong kiến đã đẩy dần cột đồng từ phía Nam (Lâm Ấp) lên phía Bắc (Quảng Tây) sau mỗi lần thất bại thảm hại ở Việt Nam của các triều đại Tống, Nguyên, Mông, Thanh.

Các vương triều Trung Hoa không chỉ ghi chép về cột đồng mà còn nguỵ tạo ra lời nguyền của Mã Viện để hù doạ người Lạc Việt, đó là câu: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy, Giao Chỉ diệt). Nguỵ tạo ra cái tên núi: Núi Rum ở Hưng Nguyên, Nghệ An thành núi Đồng Trụ. Cho sứ thần sang tra xét về cột đồng để lấy cơ xâm lược.

Đời Trần Thánh Tông, niên hiệu Thiệu Long thứ 15 (1272), Đại Việt sử ký toàn thưchép:

“Mùa hạ, tháng 4, sứ Nguyên Ngột Lương sang dụ giới hạn cột đồng cũ. Vua sai viên ngoại lang Lê Kính Phu đi hội khám. [Phu] trở về nói rằng, cột đồng Mã Viện dựng lâu năm đã bị mai một, không còn tung tích gì nữa” (1).

Đời Trần Dụ Tông, niên hiệu Thiệu Long thứ 15 (1345), Đại Việt sử ký toàn thưchép:

“Mùa thu, tháng 8, sứ Nguyên là Vương Sỹ Hành sang hỏi việc cột đồng. Sai Phạm Sư Mạnh đi biện bạch việc này” (2).

Đời Lê có chuyện Giang Văn Minh đời vua Lê Thần Tông (1619 – 1643) cử đi sứ Trung Hoa, đại thần nhà Thanh ra câu đối về cột đồng:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục

(Cột đồng đến nay rêu đã xanh)

Ông đã khảng khái đối lại:

Đằng giang tự cổ huyết do hồng

(Sông Bạch Đằng từ xưa máu vẫn đỏ)

Người Thanh tức giận giết chết ông, một sứ thần thông minh và can trường.

Ở Việt Nam , các nhà viết sử nước ta từ thời Trần, Lê cho đến thời Nguyễn đã quan tâm nghiên cứu cột đồng.

Sách Việt sử lượcthời Trần là cuốn sử đầu tiên viết về cột đồng:

“Năm thứ 17 hiệu Kiến Vũ (41), nhà Hán phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, đi đánh Trắc. Năm thứ 18 (42), Viện dọc theo bờ biển mà tiến, phá núi, mở đường, di hơn 1.000 dặm tới Lãng Bạc, Viện đánh nhau với Trắc. Trắc càng khốn đốn chạy trốn bị Viện giết chết. Viện đuổi đánh dư đảng Trắc tới Cư Phong thì hàng được. Viện bèn dựng cột đồng làm chỗ biên giới cuối cùng, chia đất đó là hai huyện Phong Khê, Vọng Hải” (3).

Sách Đại Việt sử ký toàn thưđời Lê viết:

“Mùa xuân, tháng Giêng, Trưng nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô đều thua chết. Mã Viện đuổi theo đánh quân còn lại là bọn Đô Dương. Đến huyện Cư Phong thì bọn Đô Dương đầu hàng. Viện bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán (cột đồng tương truyền ở trên động Cô Lâu, Châu Khâm. Viện có câu thề “Cột đồng gãy thì Giao Chỉ diệt”. Người Việt ta đi qua dưới cột ấy thường lấy đá chất vào, thành như gò đống, vì sợ cột ấy gãy. Mã Tổng đời Đường lại dựng hai cột ở chỗ cũ của nhà Hán, ghi công đức của Mã Viện, để tỏ ra mình là dòng dõi của Phục Ba, nay chưa rõ ở chỗ nào. Hai sông Tả giang, và Hữu giang mỗi nơi có một cột” (4).

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mụcthời Nguyễn ghi trong lời chua:

“Cột đồng: sách Thuỷ Kinh chúcủa Lịch Đạo Nguyên chép rằng: Mã Văn Uyên (Mã Viện tự là Văn Uyên) dựng cái mốc đồng để giới hạn cuối cùng của đất phía Nam Trung Quốc. Mốc đồng ấy tức là cột đồng” (5).

Tóm lại, sử sách xưa của Việt Nam hầu hết đều lệ thuộc theo sử sách Trung Hoa để chép cột đồng, chưa có sử sách nào đề cập đến thực chất vấn đề cột đồng.

Các học giả có uy tín của nước ta đã đề cập đến cột đồng, có nhiều tác giả có tên tuổi, nhiều nhà sử học lớn đã có những mục chuyên khảo về cột đồng trong các sách nỏi tiếng về lịch sử, địa lý Việt Nam . Người viết sớm nhất về cột đồng có lẽ là Nguyễn Trãi. Trong tác phẩm Dư địa chí, tác phẩm về địa lý sớm nhất của nước ta còn lại cho đến nay, Nguyễn Trãi đã viết:

“Vân Cừ, Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau huỷ đổi thành Yên Quảng) (6).

Phan Huy Chú đã viết trong phần Dư địa chícủa Lịch triều hiến chương loại chívề cột đồng giống như sách Đại Việt sử ký toàn thưcủa Ngô Thì Sĩ. Cả hai ông đều cho rằng Mã Viện đã chôn cột đồng ở Kiều Nam (7).

Từ trước đến nay vẫn lưu hành truyền thuyết “cột đồng Mã Viện” ở núi Lam Thành huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

Tác giả đầu tiên viết về cột đồng Mã Viện ở núi Lam Thành, Hưng Nguyên là Hoàng giáp Bùi Dương Lịch (1757 - 1858), ông đã viết: “Núi Lam Thành, ở xã Phú Điền, huyện Hưng Nguyên, xưa gọi là núi Đồng Trụ, lại có tên là núi Tuyên Nghĩa và Hùng Sơn (núi Gấu)” (8). Ông còn làm bài thơ vịnh núi Lam Thành có câu:

“Phục Ba đồng trụ diệt”

(Cột đồng Mã Viện bị mất tích).

Như vậy Bùi Dương Lịch đã nói đến địa danh núi Đồng Trụ và làm câu thơ nói về cột đồng Phục Ba (Mã Viện) như trên.

Còn Phương đình Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872) là người đầu tiên ở nước ta bác bỏ truyền thuyết cột đồng trụ ở Hưng Nguyên. Ông viết trong Đại Việt sử ký toàn biên:

“Nghệ An có truyền thuyết rằng: ở huyện Hưng Nguyên có dấu cũ cột đồng. Vì lúc quân nhà Minh sang xâm lược nó mới nhổ cột đồng đi, nay chỉ còn lỗ cột. Nhất thống chí đời Minh, đời Thanh còn sai lầm huống chi là tục ngữ truyền văn ư? Có người lại phụ hoạ bảo đấy là chỗ Mã Tổng lập cột đồng, thì lại chưa xét kỹ đến bản truyện Mã Tổng. Đời Đường năm Nguyên Hoà thứ 5, Mã Tổng làm An Nam đô hộ, quân dân được nhờ. Tổng tự nghĩ mình là dòng dõi họ Mã, lấy 1.200 cân đồng, đúc 2 cột đồng dựng vào chỗ cũ Mã Viện để tỏ ra mình là dòng dõi Mã Viện. Thì huyện Hưng Nguyên quyết không phải chỗ cũ Mã Viện lập cột đồng” (9).

Khác với Nguyễn Văn Siêu, Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng tin ở truyền thuyết cột đồng huyện Hưng Nguyên, ông viết:

“Còn cột đồng ở phía Bắc quận Nhật Nam thì: xét sách Tuỳ thưchép “Lưu Phương đi đánh Lâm Ấp sang Đông Đồ Lê, qua phía nam cột đồng Mã Viện định ngày đến quốc đô Lâm Ấp”. Nay huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An có núi Cột Đồng, trên núi có thành. Trong thành có một hố to, tương truyền là một cột đồng Mã Viện lập ở đây, lúc nhà Minh chiếm lấy nước ta đặt làm quận huyện, tức vì dân không phục bèn đào bỏ đi” (10).

Đặng Xuân Bảng còn cho là Mã Tổng cũng đã chôn cột đồng ở huyện Hưng Nguyên. Ông viết tiếp:

“Cột đồng Mã Tổng đã lập ở chỗ cũ nhà Hán, mà cột đồng đời Hán ở huyện Hưng Nguyên, thì cột đồng Mã tổng lập cũng phải ở đấy”.

Sách Đại Nam nhất thống chído Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn đời Tự Đức viết: “Núi Hùng Sơn cách huyện Hưng Nguyên 18 dặm về phía Nam, xưa gọi là núi Tuyên Nghĩa, lại có tên là núi Đồng Trụ, núi Lam Thành, núi Nghĩa Liệt ở giữa đồng bằng nỏi vọt lên một dãy cao lớn hùng vĩ trông ra sông Lam, có một ngọn còn lại nền cũ Thành phủ Nghệ An, do Trường Phụ nhà Minh đắp, trên đỉnh có lỗ cắm cờ. Tương truyền là chỗ cột đồng xưa. Bản triều, năm Minh Mệnh thứ 11, dân xã Phú Điền lấy đá ong ở sườn núi bắt được cái ông hoả hiệu đời xưa, nộp vào vũ khố, có lẽ ống hoả hiệu ấy là của Trương Phụ còn sót lại” (11).

Đại Nam nhất thống chíbiên soạn thời Tự Đức, chép về truyền thuyết cột đồng xưa nhưng không nêu rõ do ai lập.

Sách Đại Nam nhất thống chíbiên soạn đời Duy Tân do Cao Xuân Dục chủ biên chép gần giống như sách biên soạn đời Tự Đức, chỉ khác một chi tiết là dân Hưng Nguyên đào được hai ống hoả hiệu chứ không phải là một cái.

“Trên núi có một chỗ cắm cờ, tục truyền là chỗ đồng trụ ngày xưa. Triều Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), người làng Phú Điền vào đào đá ong ở ven núi, nhặt được hai cái ống hoả hiệu (ống lệnh) đem nạp vào vũ khố (kho chứa đồ đánh trận), đó là của tướng Tàu Trương Phụ còn bỏ sót lại” (12).

Giáo sư Đào Duy Anh nghiên cứu thư tịch thời Hán như Hậu Hán thư, Hậu Hán ký, Mã Viện truyệnvà các thư tịch chép việc liên quan đến Mã Viện đều không thấy chép về cột đồng. Mãi cho đến thế kỷ thứ IV mới có người viết về cột đồng. Giáo sư Đào Duy Anh viết:

“Sách đầu tiên chép chuyện cột đồng là sách Ngô Lụccủa Trương Bột ở đầu thế kỷ thứ IV, do sách Sơ học ký(q. 6) dẫn: “Ở Tượng Lâm, ngoài biển có một đảo nhỏ nhiều vàng. Đi 30 dặm từ Bắc đến Nam thì đến nước Tây thuộc (sau là Tây Đồ), Dân ở đó tự xưng là người Hán; có cột đồng, người ta nói là để làm cương giới cho (đế quốc Hán). Nhưng theo tài liệu ấy thì chưa thấy nói là cột đồng Mã Viện”.

Sau sách Ngô Lụcthì sách Quảng Châu ký, tác phẩm ở thế kỷ thứ IV hay thứ V, do một nhà chú giải Hậu Hán thảo (q. 5a) dẫn, là tài liệu đầu tiên nói Mã Viện dựng cột đồng:

“Viện đến Giao Chỉ, dựng cột đồng làm cương giới cuối cùng của nhà Hán vậy”.

Giáo sư Đào Duy Anh còn dẫn nhiều sách của Trung Hoa, của Pháp, của Việt Nam nói về cột đồng. Tác giả lập luận rằng:

“Ở trên uy danh của Mã Viện được lưu truyền lâu đời, dần dần đã nẩy nở truyền thuyết cột đồng Mã Viện”. “Sự dựng cột đồng là một chuyện truyền thuyết cho nên không thể chỉ định cụ thể vị trí của nó ở chỗ nào”.

Cuối cùng Giáo sư đào Duy Anh kết luận:

“Mặc dầu chuyện Mã Viện dựng cột đồng không đủ tin, truyền thuyết ấy đã dùng làm chỉ biện có giá trị để cho chúng ta tìm đến điểm tiến quân cuối cùng của Mã Viện” (13).

Vào năm 1943, Giáo sư Đào Duy Anh cũng đã chứng minh cột đồng Mã Viện lập ở núi Lam Thành, huyện Hưng Nguyên. Hơn mười năm sau Giáo sư lại không tin việc Mã Viện lập cột đồng là có. Khi chú thích cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam ,giáo sư ghi:

“Trong bài Les colonnes de bronze de Mã Việnđăng trong Bulletin des Amis du Vieux, Huế, N4 - October 1943, chúng tôi dã cố gắng chứng minh rằng nếu Mã viện dựng cột đồng thì tất phải là dựng ở núi Lam Thành. Bấy giờ chúng tôi thiên về chủ trương cho rằng Mã Viện có thể là dã dựng cột đồng thực. Nay xét lại vấn đề, chúng tôi thấy rằng không thể tin việc dựng cột đồng Mã Viện là có, nên xin cải chính lại rằng chỉ nên chứng minh rằng núi Lam Thành có thể là điểm cuối cùng tiến quân của Mã Viện, chứ không thể chứng minh rằng đó là nơi Mã Viện dựng cột đồng” (14).

Căn cứ vào những sử sách trên, đặc biệt là sách Đại Việt sử ký toàn biêncủa Nguyễn Văn Siêu và Lịch sử cổ đại Việt Namcủa Đào Duy Anh, cùng những khảo sát thực địa qua nhiều đời, chúng ta có thể kết luận rằng: “Truyền thuyết về cột đồng Mã Viện ở núi Lam thành là truyện hoang đường”.

Từ trước đến nay đã có nhiều tác giả Việt Nam dựa theo sử sách Trung Hoa cũ để viết về cột đồng. Do không vượt qua được “cái bóng Trung Hoa” nên các tác giả đó phần lớn tin truyện cột đồng là có thật. Các tác giả trên chỉ lo tìm kiếm các địa chỉ cụ thể chỗ dựng đặt “kim tiêu” (cột đồng) theo những điều mà sử sách Trung Hoa xưa viết ra.

May mắn thay nước Việt chúng ta vẫn còn có những tác giả tài ba, sáng suốt và đầy bản lĩnh, tìm đọc hết các tài liệu cổ, đồng thời phê phán, bác bỏ một cách khoa học truyện cột đồng mà sử sách các vương triều Tủng Hoa bịa ra theo lối “hiếu đại hí công”. Tác giả tiêu biểu nhất như chúng ta đã thấy là Phương đình Nguyễn Văn Siêu và Hoàng giáp Đặng Văn Thuỵ. Về sau Giáo sư Đào Duy Anh trong Lịch sử cổ đại Việt Nam cũng đã không tin việc Mã Viện lập cột đồng. Bên cạnh ba tác giả Việt Nam ở trên còn có hai học giả nổi tiếng người Pháp. Là H. Maspéro và R. A. Stein (15) cũng bác bỏ truyền thuyết về cột đồng của người Trung Hoa.

Với lập luận vững chắc của các học giả trên, ta có thể xác định rằng truyện “cột đồng” của người Trung Hoa trên đất nước Việt Nam là hoang đường.

Với những điều chứng minh trên đây, chúng tôi đề nghị:

Từ nay về sau các sách lịch sử, từ điển bách khoa, sách giáo khoa Việt Nam sẽ không viết về vấn đề “cột đồng” của người Trung Hoa ở trên lãnh thổ nước ta vì đó là chuyện hoang đường, bịa đặt.

Các sách, báo, tạp chí cùng các xuất bản phẩm khác nếu đề cập đến truyền thuyết “cột đồng” thì cần có lập luận bác bỏ.

Mong các bậc cao minh cùng những ai quan tâm đến vấn đề “cột đồng” trong lịch sử cho thêm ý kiến.

Chú thích

1.Đại Việt sử ký toàn thư , tập 2, Nxb VHTT, 2000, tr 55.

2. nt, tr 200.

3.Việt sử lược , Nxb Văn Sử Địa, H, 1960, tr 20.

4.Toàn thư , tập 1, Sđd , tr 216.

5.Khâm định Việt sử thông giám cương mụ c, Nxb Giáo dục, tập 1, Nxb KHXH, 1992, tr 192.

6.Nguyễn Trãi toàn tập , Nxb KHXH, 1969. tr 202.

7. Phan Huy Chú,Lịch triều hiến chương loại chí ,tập 1, Nxb KHXH, 1992, tr 192.

8. Bùi Dương Lịch,Nghệ An ký , Nxb KHXH, 1993, tr 118 - 124.

9. Nguyễn Văn Siêu,Đại Việt sử ký toàn biên ,Viện Sử học và Nxb VH xuất bản, 1997, tr 195.

10. Đặng Xuân Bảng,Sử học bị khảo , NXb VHTT, H, 1997, tr 463.

11.Đại Nam nhất thống chí (đời Tự Đức), Nxb KHXH, 1970, tr 139.

12.ĐNNTC (đời Duy Tân), Bộ VHGD xuất bản, 1965, tr 45.

13. Đào Duy Anh,Lịch sử cổ đại Việt Nam , Nxb VHTT, 2005, tr 450, 498.

14. Đào Duy Anh, Sđd, tr 501.

15. Dẫn theo Đào Duy Anh, sđd, tr 498, 500.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.