Trung uý phi công Alvarez - Vị khách đầu tiên của “Hilton Hà Nội”
Người “vinh dự” khai trương “Hilton Hà Nội” là trung uý phi công Mỹ, Averett Alvarez. Anh ta bị bắt ở Quảng Ninh trong một trận đất đối không Hòn Gai – Bãi Cháy - cảng Cửa ông, ngày 5 – 8 – 1964 và là tù binh phi công Mỹ đầu tiên trong chiến tranh phá hoại của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam.
Khi bị bắt Alvarez 27 tuổi. Anh ta sinh ngày 23 – 12 – 1937 tại bang California, nhập ngũ năm 1960, là phi công lái máy bay A4D, loại máy bay được không lực Mỹ mệnh danh là “Chim ưng nhà trời” thuộc lực lượng không quân Hải quân. Phi vụ đánh phá Hòn Gai – Bãi Cháy - cảng Cửa Ông, phi đội của Alvarez xuất phát từ tàu sân bay Constellation. Chiếc máy bay A4D của Alvarez bị trúng đạn của Tiểu đoàn phòng không 217 lúc 14 giờ 45 phút, sau chưa đầy 15 phúc oanh tạc, máy bay bốc cháy lao đầu xuống biển, Alvarez kịp bấm dù thoát ra khỏi “cục lửa”, đang loay hoay cùng chiếc phao chưa kịp gọi cấp cứu thì bị bắt làm tù binh để rồi sau đó là gần 9 năm ngồi bóc lịch ở nhà tù Hoả Lò Hà Nội. Cùng phi đội trung uý Richard Chrisan thiệt mạng.
![]() |
- Chúng ta sắp thực hiện nhiệm vụ đặc biệt những “Mũi tên xuyên” (1) của không lực Hải quân Mỹ sẽ làm tê liệt căn cứ Hải quân đối phương và đánh tan nới xuất phát những đoàn tàu chở vũ khí, đạn dược vào nam vĩ tuyến 17.
Một phi công hỏi:
- Dưới mặt đất có phải là khu dân cư?
- Không, các mục tiêu đã được chỉ định (viên chỉ huy trả lời).
Sau đó các phi công được xem kỹ những bức không ảnh chụp khu vực Bãi Cháy – Cửa Ông do máy bay trinh sát Hải quân cung cấp. Trên đó, các giải ảnh về mặt đất khá rõ, với tỷ lệ lớn và nhiều mục tiêu được đánh dấu. Đó là những mục tiêu tĩnh như: bến cảng, đường sá, sân bay Cát Bi, địa hình, biển, cửa biển… cả những vị trí được dự đoán là trận địa phòng không của đối phương cùng như mục tiêu di động như tàu, thuyền, xe cộ. Tuy nhiên, dường như các phi công đều cho rằng: trên đó không thể không có vùng dân cư. Về phương án hành động, viên chỉ huy phổ biến cho họ khá kỹ phương vị đột nhập vào khu vực oanh tạc, vật chuẩn và cách rời khỏi khu vực mục tiêu để tránh hoả lực lõng của đối phương. Quy định đội hình bay, cách hiệp đồng giữa các phi đội, mục tiêu đánh phá và phương án khi gặp “rủi ro” phải bằng mọi cách lao ra biển, nhảy dù, chắc chắn sẽ được cứu thoát. Lúc này, các phi công khá tin tưởng vào tính năng kỹ, chiến thuật của loại máy bay họ điều khiển, sự chu đáo của các cấp chỉ huy. Không một ai trong họ nghĩ mình sẽ ở lại mặt đất, nơi những tấm không ảnh kia đã chụp. Khi được hỏi “Anh hiểu gì về mục đích, kế hoạch đánh phá cũng như dư luận về chiến tranh Việt Nam ?” “Bộ Tham mưu liên quan J.C.S (Joint Chiefs of Staff) giao nhiệm vụ cho tàu Constellation?” Alvarez tỏ ra không hiểu. Anh ta thành thật hỏi:
- Việt Nam, tôi chưa nghe nói nhiều và khôgn biết đất nước này. Chúng tôi chỉ biết hành động. Hành động của chúng tôi là hỗ trợ cho đồng minh (Việt Nam cộng hoà); và vì Hà Nội đã tấn công “thô bạo” khu trực hạm Maddox khi nó đang làm nhiệm vụ trên hải phận quốc tế ngoài khơi vịnh Bắc bộ, việc đánh trả là cần thiết.
Từ lời khai của viên phi công, chúng ta biết thêm nhiều về quy luật hoạt động, vị trí các tàu sân bay của hạm đội 7, ý đồ của hầu hết các phi vụ mà lực lượng không quân Hải quân Mỹ tiến hành. Qua ứng xử và thái độc của Alvarez cho thấy bộ máy tuyên truyền về nghĩa vụ công dân, sự phục tùng mệnh lệnh chỉ huy của lính Mỹ khi tham gia cuộc chiến tranh được chuẩn bị khá tốt. Thừa nhận rằng, các sĩ quan tâm lý chiến của họ đã không kém trong việc này. Khi số lượng tù binh phi công Mỹ tăng lên, hầu hết họ đều bộc lộ tư tưởng cho rằng mình thực thi nhiệm vụ của một quân nhân, một công dân tốt của nước Mỹ.
Cũng trong tháng 8 – 1964, Alvarez được chuyển đến Hoả Lò và trở thành vị khách đầu tiên của Hilton Hà Nội. Buổi “tiếp đón” diễn ra lặng lẽ, các chiến sĩ cảnh vệ dẫn anh ta vào phòng và dường như lúc này anh ta mới thực sự cảm thấy đây chính là nơi giam giữ. Không lâu sau, khi tiếp xúc với các chiến sĩ trẻ Việt Nam , nhìn ánh mắt tự tin và nhận ở họ sự chia sẻ, viên phi công “độc thân” yên tâm hơn. Anh ta dần quen đi nỗi nhớ nhà và tìm cách thích nghi với hoàn cảnh. Qua sự tiếp xúc và tìm hiểu, Alvarez dần nhận thức được ý đồ của nhà cầm quyền Mỹ và sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam , điều mà anh ta không hề nghĩ tới trước khi bị bắt.
Điều đáng quan tâm hơn là Alvarez giải đáp được một số vấn đề chúng ta đặt ra liên quan đến sự hiện diện của Hạm đội 7 ở vịnh Bắc bộ, và sự kiện mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam:
- Lệnh hành quân đến với các tàu sân bay lần này không theo chu kỳ, không phải tham gia diễn tập như đã từng tiến hành mà là một cuộc hành quân đặc biệt. Các sĩ quan được hưởng chế độ ưu đãi thời chiến, tất cả chúng tôi đều dự cảm về một chuyến đi dài.
Khi được hỏi:
- Quân đội Mỹ có nghĩa vụ giúp đồng minh giành thắng lợi trong cuộc chiến, vậy anh hiểu gì về đối phương?
- Tàu sân bay chúng tôi không tham gia một phi vụ nào ở phía nam vĩ tuyến 17, hướng hành trình của nó là vịnh Bắc bộ, chúng tôi thực thi nhiệm vụ của một người lính. Còn đối phương, họ là cộng sản, chúng tôi biết vậy và luôn nghĩ, lạy chúa đừng bao giờ bị rơi vào tay họ.
Với thái độ cộng tác, viên phi công này đã cung cấp cho ta nhiều thông tin về tính năng kỹ, chiến thuật của một số loại máy bay và của một số loại vũ khí trên tàu Constellation, về tổ chức biên chế của tàu sân bay, số lượng máy bay trên tàu, thủ đoạn tác chiến, đường bay vào, ra ven vịnh Bắc bộ, đánh giá của Mỹ về phòng không Bắc Việt Nam… những điều Alvarez cung cấp, chúng ta xem xét nghiêm túc và vận dụng nghiên cứu đối phương.
Đầu năm 1965, dự kiến chiến tranh phá hoại của Mỹ còn mở rộng với lực lượng quy mô lớn hơn và sẽ có nhiều tù binh phi công nhập trại Hoả Lò. Tháng 2 - 1965, Cục 2 - Bộ Tổng Tham mưu thành lập bộ phận chuyên trách theo dõi “tình huống miền Bắc” và thành lập Ban Hỏi cung tù binh Mỹ, ban này do đồng chí Tống Trần Thuật và Nguyễn Thanh chỉ đạo. Đúng như dự kiến, Alvarez đã không cô đơn, 6 tháng sau, thiếu tá Hải quân, phi công vũ trụ, lái máy bay tiêm kích F8 thuộc tàu sân bay Coran Sea bị bắt ở Quảng Bình nhập trại. Khi biết có thêm người Mỹ bị bắt, Alavarez kêu lên: “Chiến tranh rồi ư, thế là hết hy vọng”. Thật tội nghiệp, cho đến lúc này anh ta vẫn nghĩ rằng cuộc chiến sẽ kết thúc trong một ngày không xa. Khác với người đến trước, Robert Shumaker hiểu về chiến tranh Việt Nam và ý thức rằng cuộc chiến còn kéo dài và như vậy thì “ước mơ trở thành phi công vũ trụ có thể tan tành”, nhưng ơn Chúa vẫn còn sống và hy vọng có ngày trở về, không thể có gì tốt hơn trong hoàn cảnh này.
Tháng 2 – 1973, theo thoả thuận của Hiệp định Parisvề kết thúc chiến tranh ở Việt Nam , toàn bộ số tù binh phi công Mỹ được trao trả, Alvarez được đưa ra sân bay Gia Lâm để về nước.
Năm 1993, Alvarez trở lại “miền ký ức”, khách sạn Hilton Hà Nội; mái đầu bạc của Alvarez đã nhiều lần cúi xuống để giấu sự xúc động khi thăm lại căn phòng và nơi ông ta từng sống gần 9 năm của thời trai trẻ.
Chú thích:
1. Ám chỉ những máy bay Mỹ và là tên của cuộc hành quân “Mũi tên xuyên” (Pierce Arrow).









