Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 16/09/2006 17:42 (GMT+7)

Trung Quốc hậu WTO: Những bài học phát triển

Có lẽ vì thế mà việc “thăng hạng” của Trung Quốc đã không gây chấn động lớn. Tuy nhiên, vẫn có không ít những ý kiến phản biện, nêu lên những mặt yếu kém, bất cập trong phát triển: “Trung Quốc vẫn còn là một nước nghèo” với thu nhập bình quân đầu người còn xếp ở hạng 107 trên thế giới (Le Figaro, 21-12-2005); “Bảy mất cân đối chủ yếu của tăng trưởng Trung Quốc” (Le Monde, 21-12-2005)... Tháng 2 vừa rồi, Giáo sư Guy Serman cho xuất bản một tiểu luận mang tên Năm con gà, mổ xẻ hiện tượng tăng trưởng của quốc gia có 1,3 tỉ dân này. Giáo sư cho rằng việc công bố một tỷ lệ tăng trưởng cao như trên “tự nó không phải là một thông tin kinh tế có ý nghĩa”, khi Trung Quốc đã trở thành “xưởng chế tạo của thế giới”.

Những vấn đề của tăng trưởng


Tăng trưởng GDP là rất thật, nhưng sau nó là cả một loạt vấn đề cũng rất thật. Trước nhất, về tính chất của tăng trưởng: nó phát sinh không phải từ đổi mới công nghệ trong sản xuất mà từ gia công là chủ yếu, khiến phụ thuộc nhiều vào sự đặt hàng từ bên ngoài. Sau nữa, về mặt phân bố, tức thụ hưởng tăng trưởng: “Nó đang làm giàu cho khoảng 150 triệu người Trung Quốc trong ba khu dân cư lớn, nhưng không mang lợi nhiều cho phần còn lại của đất nước”. Người ta chứng kiến “một sự bóc lột gia tăng khi nông thôn bị bỏ mặc trong lạc hậu, vẫn mãi trong cảnh đói nghèo”. Vì vậy, vấn đề cần đặt ra là thu nhập tính trên đầu người. Xét trên bình diện đó, “Trung Quốc vẫn còn là một trong những nước nghèo nhất hành tinh”.

So sánh giữa Ấn Độ và Trung Quốc, Giáo sư Guy Serman có một đánh giá rất đáng suy nghĩ. Theo ông, dân chủ là một thành tố chủ yếu của chính sách kinh tế. Một cách nào đó, “dân chủ làm chậm tăng trưởng, nhưng phân phối nó tốt hơn”. Và đấy là trường hợp Ấn Độ với tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn, nhưng lại ổn định hơn Trung Quốc. Tỷ lệ này có thể dự đoán được trong một thời gian dài và được phân phối đồng đều trên cả nước. Ở Ấn Độ, nếu bạn tạo lập một nhà máy thì bạn vẫn có thể nghĩ đến việc nó sẽ còn đó trong 15-20 năm nữa. Tăng trưởng nhanh đến chóng mặt của Trung Quốc, nhìn thật ngoạn mục, nhưng cái giá của nó cũng đắt không kém: năm 2004, đã có đến 200.000 vụ xung đột xã hội chỉ riêng trong tỉnh Quảng Đông (Le Nouvel Observateur, 13 _ 19-4-2006). Phân hóa giàu nghèo, chênh lệch phân phối cùng bất công xã hội đã đến độ báo động về phương diện bình ổn chính trị.

Tờ Le Monde (ngày 23-5-2006) đăng một bài viết phản biện thẳng thừng hơn với đầu đề “Trung Quốc đang soán vị trí cường quốc thương mại mới”. Tác giả thừa nhận “vị thế của Trung Quốc trong nền thương mại thế giới không ngừng gia tăng”. Ngày nay, Trung Quốc là nhà xuất khẩu thứ ba của thế giới, sau Mỹ và Đức. Trung Quốc đã chiếm lĩnh các thị phần ngay tại Mỹ (15% nhập khẩu của Mỹ), lẫn ở châu Âu (13% nhập khẩu). Trung Quốc đã trở thành đối tác ưu đãi trong các khu vực có mật độ cao về nhân công không có tay nghề, và cả trong các khu vực có cường độ công nghệ lớn. Thị phần trong lĩnh vực dệt là 21% xuất khẩu thế giới, và trong lĩnh vực điện tử là 14%. Tuy nhiên, Trung Quốc chủ yếu vẫn còn là một nước chuyên lắp ráp các bộ phận sản phẩm, chưa có thế mạnh trên các thị trường công nghệ (chip điện tử, bán dẫn...).

Thực ra, nền kinh tế Trung Quốc không có sức cạnh tranh mạnh như người ta tưởng. Theo chỉ số của Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Trung Quốc vẫn nằm ở thứ hạng 49. Cũng phải công nhận rằng Trung Quốc đã có bước tiến khá mạnh vào thời gian gần đây: trong bảng xếp hạng 36 nước trên thế giới có sức cạnh tranh kinh tế, do Viện Phát triển quản lý Lausanne tiến hành trong hai năm 2005-2006, đã có mặt Trung Quốc. Năm 2006, Trung Quốc đã nhảy lên 12 bậc, từ hạng 31 vào năm 2005 nhảy lên hạng 19 vào năm 2006. Nhưng cả ở thứ hạng mới này, Trung Quốc vẫn đứng sau Đài Loan (hạng 18) và đặc biệt là Hồng Kông (hạng 2). Trong khu vực châu Á, Trung Quốc xếp sau Nhật (hạng 17), và ở Đông Nam Á, sau Singapore xa (hạng 3).

Tất nhiên, Trung Quốc có chi phí lao động cực kỳ thấp, nhưng chỉ lợi thế đó thôi không thể tạo nên một nền kinh tế có sức cạnh tranh, mà còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác (thành tựu kinh tế mọi mặt, hiệu quả của các cấp chính phủ trung ương và địa phương...). Trong khi đó, năng suất sản xuất của Trung Quốc còn yếu kém (khiến cho các chi phí theo đơn vị tính ra cao hơn một số nước đang lên tại châu Á và châu Mỹ Latinh), chậm về mặt nghiên cứu phát triển, thiếu lao động lành nghề cùng hạ tầng cơ sở phát triển (vận tải, cung ứng điện...).

Vai trò của đầu tư nước ngoài


Thành thử, nền kinh tế Trung Quốc mang dấu ấn rất rõ của một nghịch lý: tương đối ít sức cạnh tranh nhưng lại chiếm được nhiều thị phần, đồng thời chen chân được vào những thị trường có mật độ tư bản chủ nghĩa cao, trong khi chỉ có một lực lượng nhân công ít tay nghề. Chính sự có mặt của các xí nghiệp nước ngoài trên đất Trung Quốc là nguồn gốc của sự gia tăng xuất khẩu từ Trung Quốc, chứ không phải từ các xí nghiệp nội địa. Các xí nghiệp nước ngoài trên đã thu hút nhân công ở các vùng bờ biển nơi họ đặt trụ sở, đồng thời tham gia vào việc phát triển hạ tầng cơ sở. Tính ra, đến 39% xuất khẩu của Trung Quốc là do các xí nghiệp có vốn 100% của nước ngoài thực hiện. Còn lại 20% là từ các xí nghiệp liên doanh, chỉ 41% là của xí nghiệp trong nước. Trong thập niên qua, thị phần của các xí nghiệp Trung Quốc tương đối ổn định (tăng 2-3%), trái lại thị phần của các xí nghiệp nước ngoài trên đất Trung Quốc tăng mạnh (4,4%). Các xí nghiệp nước ngoài chủ yếu là của các nước châu Á (chiếm 60%); các xí nghiệp của Mỹ đầu tư ngày một ít, còn sự hiện diện của Pháp cũng hạn chế (chỉ 1% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài).

Những xí nghiệp nước ngoài vào làm ăn ở Trung Quốc có một mục tiêu kép: trong ngắn hạn họ lợi dụng những thế mạnh của nước này về chi phí nhân công thấp hơn so với phần lớn các nước châu Á; trong trung hạn và dài hạn, họ hy vọng chiếm được thị phần nội địa Trung Quốc, với một tiềm năng rất lớn (1,3 tỉ dân; tầng lớp trung lưu hiện đông gấp sáu lần so với năm năm trước, chiếm đến 180 triệu người). Việc Trung Quốc được gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2001 còn cho phép gia tăng đông đảo hơn các xí nghiệp nước ngoài, và lúc này họ càng có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác những lợi thế không thể sánh được của nền kinh tế nước này, từ đó chiếm lấy các thị phần trên thương trường quốc tế.

Chung cuộc, cần phải coi việc tăng trưởng mạnh mẽ của Trung Quốc trong nền thương mại và kinh tế thế giới như là một thứ rất tương đối. Và trong cách tiếp cận vấn đề này, phải phân biệt trong tâm tưởng sản phẩm “made in China” (chế tạo tại Trung Quốc) với các sản phẩm “made by China” (chế tạo bởi Trung Quốc). Lợi ích tối hậu của việc hợp tác với nước ngoài phải là chuyển giao kỹ thuật của nước ngoài cho Trung Quốc, song điều đó diễn ra rất ít và chậm; trong khi đó khâu nghiên cứu và phát triển lại chậm đáng kể. Việc này làm giảm rất nhiều nguy cơ mà nền kinh tế Trung Quốc có thể tạo ra cho các nước phát triển nhất.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 31-2006

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.