Trung Quốc đông dân từ bao giờ?
Vào năm thứ 2 sau công nguyên, số dân chính thức của Trung Quốc được thống kê là 59.594.978 người, mấy năm trước khi nổ ra cuộc cướp ngôi của Vương Mãng chấm dứt triều đại Tây Hán (206 tr. Cn. – 7 sau Cn.). Ngày nay người ta vẫn coi đấy là triều đại thống nhất, thịnh vượng, bành trướng và toả sáng chưa từng thấy. Thời đó đất đai do người Trung Hoa kiểm soát đã phát triển từ khoảng 2 triệu lên gần 5 triệu cây số vuông (nếu kể cả vùng đất chinh phục ở Trung Á, Triều Tiên và Việt Nam).
Với dân số gần 60 triệu, Trung Quốc chịu gánh nặng dân số giống như Đế chế La Mã thời hoàng đế Antonin lúc bành trướng rộng nhất. Tuỳ theo sự đánh giá, Trung Quốc lúc đó đã chếm 1/4 hay 1/3 dân số toàn cầu.
Con số trên được ghi lại trong sách Hán thưbiên soạn vào nửa cuối thời Hán, mà người ta coi là kết quả của cuộc “điều tra dân số”. Thực tế đấy là con số cộng lại từ các sổ đinh do các quận huyện nộp lên, và ta có thể ngờ rằng nó thấp hơn con số thực khoảng 10%, vì nó không ghi những hạng người như: tầng lớp quý tộc không phải đóng thuế và phần lớn các nô tì. Dù sao các chuyên gia cũng cho đó là hình ảnh có thể chấp nhận được về tình hình dân số.
Mối quan tâm tìm hiểu số dân đã xuất hiện ở Trung Quốc từ giữa thiên niên kỷ I trước Cn., vào lúc nông dân được nhận ruộng để canh tác và phải chịu quân dịch. Sử sách xưa nhất có ghi chép về dân số chỉ đưa ra con số chục triệu. Vào thời Chiến quốc (480 – 221 tr. Cn.) số dân có khoảng chừng 20 đến 30 triệu. Có thể nghĩ rằng những cuộc chiến tranh liên miên suốt thời đó đã làm cho dân số suy giảm. Việc thiếp lập thời thái bình dưới triều Hán, trùng hợp với giai đoạn khí hậu thuận lợi nhất, đã tạo điều kiện cho thịnh vượng và tăng trưởng số dân.
Được chia thành quận do triều đình trung ương trực tiếp cai trị và đất “phân phong” cho các dòng hoàng tộc ngành thứ và các dòng họ liên minh, đế chế Trung Hoa không còn cảnh nội chiến. Và khi có thiên tai, triều đình có khả năng cứu trợ. Các cuộc chiến tranh chinh phục rất nhiều vào thế kỷ II tr.Cn. dưới thời Hán Vũ đế, chủ yếu là do các binh lính đồn điền đóng trên biên giới thực hiện. Những người này có hai nhiệm vụ là canh tác vùng đất thường bị các bộ tộc du mục đe doạ, và xây dựng đồn luỹ phòng vệ.
Xem lại bản đồ trong phần Địa dư chí của sách Hán thư, ta có thể hình dung sự phân bố dân cư vào đầu công nguyên. Trước hết ta thấy số dân tập trung đông đảo ở phía Bắc. Lãnh thổ trải trên các tỉnh hiện nay của Trung Nguyên như Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, cũng như vùng biên cảnh phía nam An Huy và Giang Tô, cộng thêm lưu vực sông Phần (Sơn Tây ngày nay) và sông Vị (vùng Tây An), tập trung ít nhất là 40 triệu dân, tức hơn hai phần ba số dân đăng ký. Riêng đồng bằng Trung Nguyên với 33 triệu dân tập trung trên khoảng 500.000 km 2là vùng đông dân nhất.
Chính trên vùng đất được tưới nước đầy đủ, với nông nghiệp định canh trồng lúa mì và lúa mạch, đã được trồng trọt từ thời đá mới, đã xuất hiện những khu dân cư lớn từ thời cổ đại: Hàm Dương, kinh đô cũ thời Tần, triều đại đã thống nhất Trung Quốc lần đầu tiên vào năm 221 tr. Cn., cạnh đó là thành phố Tràng An (nay là Tây An), trung tâm chính trị thời Tây Hán, hay Lạc Dương tỉnh Hà Nam và Lâm Ấp phía bắc tỉnh Sơn Đông.
Phía nam có một vài khu vực trồng lúa chưa phát triển lắm, như vùng duyên hải phía nam châu thổ sông Trường Giang, với nhiều thành thị rất cổ (như Tô Châu vừa kỷ niệm 2.500 năm tồn tại), thung lũng trung du Trường Giang và đồng bằng Thành Đô (Tứ Xuyên). Phần còn lại của Hoa Nam là một vùng rộng lớn hầu như không người, cư dân bản địa gần như độc lập, đế chế Hán chỉ đóng một số đồn binh để bảo vệ con đường đi đến Quảng Đông và Việt Nam.
Sử gia Tư Mã Thiên (145 – 84 tr. Cn.) đã nói một câu trở thành tục ngữ: Trung Quốc thời Hán chỉ có thể cai trị trên lưng ngựa. Đế chế đã tổ chức từ kinh đô Tràng An một hệ thống đường trạm toả đi khắp nơi với chiều dài hàng nghìn cây số, để cho xe ngựa chạy nhanh với người đi bộ, chủ yếu dành cho người đi hơn là vận chuyển hàng hoá, trừ những đồ quý giá như kim loại và ngọc.
Có lẽ những khó khăn trong vận chuyển đã giải thích mâu thuẫn tồn tại trong việc phân bố cư dân. Vì tới 60 triệu dân, nó đã đạt đến cái ngưỡng khó duy trì ổn định. Và trong sáu thế kỷ sau, nó không bao giờ vượt quá con số đó.








