Trong câu hát lý của đồng bào Cơ – Tu
Nói lý, hát lý được thể hiện rộng rãi trong sinh hoạt văn hoá ở cộng đồng, được xem là nghệ thuật “so tài” giữa các cụ cao niên làng này với các cụ cao niên làng khác; giữa chủ nhà với khách… thậm chí được dùng trong việc xử lý hoà giải những mâu thuận nội bộ, trong cộng đồng tộc người. Nó có tác dụng hữu hiệu trong giáo dục xã hội vì nó đưa ra những lý lẽ có sức thuyết phục cao, buộc người khác phải thừa nhận và nghe theo. Nói lý, hát lý của người Cơ - tu thường có nhiều lớp nghĩa. Ý càng sâu, kín đáo, đối thủ không hiểu (không còn “đấu” lại được) thì càng chứng tỏ tài năng của người hát. Cái khó của nói lý, hát lý là không có bài mẫu chung để học hát, học nói mà nó phụ thuộc vào việc ứng khẩu của người tham gia, tức theo trình độ, khả năng, kinh nghiệm của từng nghệ nhân. Chính vì thế mà nhiều thế hệ trẻ Cơ - tu hôm nay rất ít ai nói lý, hát lý được một cách thông thạo, nhuần nhuyễn. Đây là hiện tượng nan giải cần được khắc phụ dần. Nếu không quan tâm đúng mức đến thực tế trên sẽ có nguy cơ bị mai một dần.
Một điều kiện mà người ta có thể chứng kiến nghệ thuật nói lý, hát lý của đồng bào Cơ - tu đó là dịp lễ cưới. Sau khi đón khách, người chủ nhà (thường là nhà trai) chuẩn bị mâm tiệc đón khách (ch’nao) hoặc đón các cụ cao niên (pay buốh tacoóh). Đại diện chủ nhà thường là người có uy tín, giàu kinh nghiệm, có trình độ ứng khẩu tốt sẽ đứng ra khởi xướng (pay h’la - tức tuyên bố lý do). Thường thì chủ nhà nói lời khiêm tốn trong việc tiếp đãi tiệc tùng; phía khách nâng cao giá trị vật chất và tinh thần của chủ. Hát lý bao giờ cũng sau nói lý. Hát lý là bước nâng cao giá trị của nói lý.
Chủ tiệc chọn thời điểm thích hợp để cất lên tiếng hát mở đầu: “Ô… ô… ô … Azô achoọng/ coonh vóc, coonh êên…” (phần đệm của điệu nhạc) sau đó nói lên nội dung. Nội dung ở đây bằng những từ ẩn ý. Sâu lắng trong truyền thống văn hoá của dân tộc. Cái đặc sắc trong câu nói lý, hát lý và giữ được giá trị đạo lý của dân tộc. Ví dụ: muốn ví bề trên, người có uy tín thì nghệ nhân đưa ra các vật có giá trị tương xứng như: con gấu đem mật cho người; con trâu kéo cày giúp đời; con voi xác to, ngà quý… (ý đưa ra: con gấu, con trâu, động vật quý hiếm - chỉ cán bộ. Mật là ám chỉ chủ trương chính sách của Đảng đến với người dân. Kéo cày là chỉ cán bộ làm vì dân. Con voi là Đảng, Nhà nước; ngà quý là chủ trường đường lối đúng đắn…).
Theo ông Alăng Phát (người Cơ - tu), già làng thôn Sơn, xã Sông Kôn, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam thì trong nói lý, hát lý nghệ nhân khi đưa ra vấn đề, muốn thể hiện hay, ý tứ sâu sắc thì điều tất yếu là phải am hiểu bản chất vấn đề đó sao cho phù hợp với nội dung và hình ảnh được ví von, không đi lệch với bản chất của vấn đề (nhất là khi nói về một người có uy tín). Nhiều làng Cơ - tu vẫn duy trì nghệ thuật ứng khẩu khá tốt như làng Aréh (xã Tà Lu, Đông Giang), hay một số làng vùng 3 ( Aram I, II, III), xã Jơ Ngây, Đông Giang… Nói lý, hát lý đôi khi cũng được người Cơ - tu dùng trong việc giao tiếp, sinh hoạt bình thường nhưng ngại nói thẳng vào vấn đề, cho nên đồng bào thường muốn nói vòng vo (nói cái này để ám chỉ cái kia).
Trong câu nói lý, hát lý ở đây rất phong phú về ngôn từ. Người ta sử dụng nhiều hình ảnh lạ, sâu kín, tạo nên những ẩn ý khá độc đáo, đòi hỏi người nghe phải suy nghĩ. Do cách diễn đạt kín đáo như vậy lại kết hợp với những ngôn từ, lý lẽ khó hiểu mà có rất nhiều người khi nghe vẫn không hiểu được ý của người nói, người hát, nên cũng dễ gây sự hiểu nhầm. Nhưng trong hát lý, người ta thường nói ngầm (nếu muốn trách móc người nào đó) bằng lý lẽ rất nhẹ nhàng sắc bén và kín đáo.
Trong nói lý, hát lý không bao giờ thấy có câu thô lỗ, tục tĩu, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết; mà ngược lại, nó làm tăng thêm sự đoàn kết, hiểu nhau hơn trong cuộc sống, nhiều khi dễ đồng cảm với nhau. Với nói lý, hát lý, đồng bào Cơ – tu có thể khẳng định đây là một nghệ thuật truyền thống thật đáng tự hào. Ngoài ra đồng bào còn có một số hình thức nghệ thuật ứng khẩu tương tự nhưng theo vần điệu (tr’a), như chàchập – baboóch (hát giao duyên) hay c’lêng (khóc người chết). Điệu hát này rất ai oán, đau xót, tiếc thương…
Mang một nỗi băn khoăn, khi trao đổi với tôi, ông Alăng Phát trăn trở: “Bọn trẻ ngày nay bảo xấu hổ khi mặc khố, múa hát cồng chiêng; không muốn nghe già nói lý, hát lý… cho là lạc hậu…”. Như vậy, có thể thấy rằng, nhiều người trong giới trẻ hiện nay đã và đang dần quên đi nét đẹp truyền thống của tộc người mình - mà chạy theo xu hướng hội nhập. Văn hoá truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị mai một dần. Và nếu không được quan tâm đúng mức sẽ e rằng trong nay mai - khi các cụ cao niên trở về với tổ tiên thì nói lý, hát lý của đồng bào Cơ - tu sẽ không còn nghe thấy ai nhắc đến nữa. Thiết nghĩ, việc bảo vệ và gìn giữ, phát triển thuần phong - mỹ tục, bảo vệ và phát huy nét đẹp truyền thống của các dân tộc thiểu số vẫn đang còn là vấn đề nhức nhối, cần được các cấp các ngành đầu tư và quan tâm thoả đáng.
Nguồn: Dân tộc & Thời đại, số 117, tr 7







