Trở lại chuyện nước sạch
Một người, mỗi ngày cần hấp thụ (ăn, uống) từ 1,5 đến 2 lít nước. Nước đưa vào cơ thể phải sạch, nghĩa là đạt các tiêu chuẩn qui định. Hệ thống tiêu hoá cũng giúp gạn lọc một phần các tạp chất để có nước sạch trong máu.
Khi trình độ văn hoá chưa phát triển, thông tin còn nghèo nàn, người dân chỉ sống theo kinh nghiệm, ít để ý đến ảnh hưởng của môi trường. Đồng thời, sự ô nhiễm khi đó chưa đến mức trầm trọng. Do dân số tăng và công nghiệp phát triển, con người đã huỷ hoại thiên nhiên, tác động xấu tới môi trường quá nhiều. Chính vì vậy mà người dân bây giờ không thể đặt mình vào thời kỳ cách đây nửa thế kỷ mà phải biết nhận thức thực trạng ngày nay để có biện pháp đề phòng và bảo vệ.
Nước sinh hoạt được khai thác từ nước bề mặt (sông, hồ, ao, giếng, biển nhân tạo…) và nước ngầm (giếng khoan, nước mạch). Ngày xưa làm gì có thuốc trừ sâu, hoá chất diệt cỏ, chất thải công nghiệp thẩm thấu vào nước. Nhưng mọi thứ đều có thể xảy ra.
Để đạt các chỉ tiêu về nước sạch, cần phải xử lý nước bằng các biện pháp khác nhau. Do nguồn nước chứa cả vi sinh vật, các tạp chất vô cơ, hữu cơ nên phải loại vi sinh vật các tạp chất đó ra khỏi nước trước khi cung cấp cho người dùng. Người ta dùng khí hoặc dung dịch có chứa clo, viên cloramin B để sát trùng; dùng hoá chất để kết tủa và lọc hay lắng gạn các tạp chất cơ học; dùng các phản ứng hoá học để giảm và loại bớt các ion kim loại có hại khác, đưa chúng xuống dưới mức tiêu chuẩn qui định. Nhưng, có khi nước ra khỏi nhà máy thì đảm bảo chất lượng, mà đến tay người dùng lại bị ô nhiễm, chứa thêm tạp chất. Thí dụ: có người đục thủng đường ống để lấy nước làm cho giun và đất bẩn lọt vào hệ thống dẫn nước; đựng nước trong bể, chum, vại không đạt tiêu chuẩn hoặc giữ nước trong bể chứa, chum vại lâu ngày; đồ đựng bằng chất dẻo không đạt tiêu chuẩn làm tạp chất thôi vào nước… Đó là chưa kể đến đa số hộ ở nông thôn vẫn sử dụng các nguồn nước sinh hoạt khác nhau lấy từ ao, hồ, ngòi, lạch, sông, suối mà không xử lý. Những khi úng lụt đành phải dùng trực tiếp nước ngập. Dùng phèn và cloramin để làm trong và sát trùng nước cũng chỉ là giải pháp tình huống. Có khi người thực hiện xử lý nước cũng không hiểu hết tác hại của các chất dùng để làm sạch nước!
Theo tiêu chuẩn Việt Nam ban hành năm 2002, nước sinh hoạt, ăn uống phải đáp ứng 32 chỉ tiêu, trong đó có đề cập: màu sắc; mùi vị (không); độ đục; pH (6,5 – 8,5); độ cứng (300 mg/lít); các kim loại, á kim, các nhóm ion độc hại phải nằm trong qui định.
Có chỉ tiêu phải kiểm tra thường xuyên, có chỉ tiêu kiểm tra định kỳ.
Chúng ta tạm bằng lòng với chất lượng nước sạch do mạng lưới nước sạch ở các thành phố cung cấp, nhưng vẫn còn nhiều điều phải suy nghĩ đối với nước sinh hoạt ở nông thôn. Theo chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, cho tới năm 2010:
- 85% dân số nông thôn sẽ được hưởng nước sạch, bình quân 60 lít/ người, ngày.
- 4.300 công trình cấp nước tập trung được nâng cấp, cải tạo.
- 4.900 công trình được xây mới.
- 2.700 giếng khoan, hồ nước vừa và nhỏ được xây.
- 147.300 công trình nhỏ bé cung cấp nước (như giếng đào, giếng khoan, lu, bể…) [theo số liệu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn].
Chương trình có qui mô lớn và tiêu tốn tiền của. Nhưng ý thức của người dân với việc khai thác, cung cấp và sử dụng nước sạch còn chưa cao.
Vấn đề vệ sinh đảm bảo nước sinh hoạt, ăn uống ở Việt Nam luôn là thời sự; cần có sự tham gia của toàn xã hội. Có như vậy, nhiều bệnh tật mới được phòng tránh, đẩy lùi, sức khoẻ nhân dân, cả ở thành phố và nông thôn mới thật sự được bảo vệ.








