Triển vọng trong tầm soát ung thư buồng trứng
Cơ sở sinh học của việc tầm soát
Tỷ lệ sống còn của UTBT liên quan đến giai đoạn chẩn đoán, tỷ lệ sống 5 năm ở người phát hiện bệnh vào giai đoạn I là trên 90% và giảm còn 75 – 80% nếu tổn thương còn trong vùng, đối với di căn xa thì tỷ lệ này là 25%. Mặc dù tiên lượng tốt liên quan giai đoạn sớm của bệnh nhưng tỷ lệ sống 5 năm của toàn bộ bệnh nhân UTBT dưới 45%. Tỷ lệ tử vong do UTBT giảm rất ít trong hơn 30 năm qua. Thật ra, người ta ít hiểu biết về cơ chế cũng như thời gian tiến triển của UTBT tại chỗ đến giai đoạn xâm lấn ra khỏi vùng. UTBT có thể khởi phát từ nhiều vùng trong ổ bụng vì yếu tố sinh ung thư vẫn phát triển sau khi cắt bỏ buồng trứng bình thường. 90% UTBT là ung thư thượng mô, phần còn lại là từ tế bào mầm hoặc mô khác. Một phân nhóm của ung thư thượng mô được biết là khối u giới hạn.
Yếu tố nguy cơ của UTBT
Việc xác định phụ nữ có nguy cơ cao bị UTBT là vô cùng quan trọng vì như vậy, có thể chọn lựa được nhóm người có giá trị trong chiến lược tầm soát bệnh. Cho đến nay, một số lượng lớn các yếu tố nguy cơ gây bệnh đã được xác định và dưới đây là các yếu tố quan trọng nhất:
Yếu tố về gen
Nguy cơ UTBT được biết chắc chắn nhất hiện nay là tiền sử gia đình, yếu tố này hiện diện ở 10 – 15% phụ nữ bị bệnh UTBT. Đối với một phụ nứ có một hoặc nhiều thành viên trong gia đình bị UTBT cần phân biệt hai yếu tố: UTBT liên quan đến tiền sử gia đình hay hội chứng UTBT gia đình (hiếm gặp). Theo phân tích thống kê, những phụ nữ thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai trong mối liên hệ với người UTBT sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, tỷ lệ mắc bệnh ở tuổi 35 là 1,6 – 5%. Ngược lại, với hội chứng UTBT gia đình (di truyền), nguy cơ mắc bệnh rất cao (khoảng hơn 50%). Hội chứng UTBT gia đình không thường gặp, ước tính khoảng 5 – 10% các trường hợp. Hội chứng này bao gồm: Hội chứng UTBT – tuyến vú, hội chứng Lynch II, nó liên quan đến các ung thư đại tràng, vú, tử cung và UTBT với ung thư đại trực tràng không do polyp (di truyền). Hội chứng di truyền thường gặp nhất chính là hội chứng UTBT – tuyến vú. Phần lớn các gia đình này có đột biến gen BRCA1 & BRCA2. Tần suất mang đột biến gen BRCA khác nhau giữa các dân tộc. Dạng này hay gặp ở tuổi rất trẻ (dưới 50 tuổi) và xảy ra ở nhiều thành viên gia đình (từ 2 – 4 thế hệ).
Tuổi của người phụ nữ
Tần suất bị UTBT tăng lên theo tuổi. Ở độ tuổi 50 – 75, tần suất hàng năm là 50/100.000 người cao gấp 2 lần so với người trẻ hơn. Ở người trẻ, tần suất ung thư liên quan đến đột biến gen sẽ nhiều hơn và chẩn đoán trễ.
Yếu tố sinh sản:
Ở người có thai, tỉ lệ UTBT giảm 25-50%. Nguy cơ cũng giảm với số lần mang thai. Nguy cơ bị UTBT cũng giảm khi dùng thuốc ngừa thai (40%) và với thời gian dùng thuốc. Dùng thuốc ngừa thai 5 năm, những phụ nữ không con giảm được nguy cơ UTBT ngang mức những phụ nữ có con mà không dùng thuốc ngừa thai; sau 10 năm dùng thuốc, phụ nữ có tiền sử gia đình UTBT có thể giảm nguy cơ ngang mức phụ nữ không có tiền sử gia đình mà không dùng thuốc ngừa thai. Vì vậy có những khuyến cáo cho phụ nữ có đột biến gen BRCA dùng thuốc ngừa thai để ngừa UTBT.

Các thủ thuật can thiệp sản phụ khoa 






