Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 05/09/2009 05:57 (GMT+7)

Triển vọng trong tầm soát ung thư buồng trứng

 

Cơ sở sinh học của việc tầm soát

Tỷ lệ sống còn của UTBT liên quan đến giai đoạn chẩn đoán, tỷ lệ sống 5 năm ở người phát hiện bệnh vào giai đoạn I là trên 90% và giảm còn 75 – 80% nếu tổn thương còn trong vùng, đối với di căn xa thì tỷ lệ này là 25%. Mặc dù tiên lượng tốt liên quan giai đoạn sớm của bệnh nhưng tỷ lệ sống 5 năm của toàn bộ bệnh nhân UTBT dưới 45%. Tỷ lệ tử vong do UTBT giảm rất ít trong hơn 30 năm qua. Thật ra, người ta ít hiểu biết về cơ chế cũng như thời gian tiến triển của UTBT tại chỗ đến giai đoạn xâm lấn ra khỏi vùng. UTBT có thể khởi phát từ nhiều vùng trong ổ bụng vì yếu tố sinh ung thư vẫn phát triển sau khi cắt bỏ buồng trứng bình thường. 90% UTBT là ung thư thượng mô, phần còn lại là từ tế bào mầm hoặc mô khác. Một phân nhóm của ung thư thượng mô được biết là khối u giới hạn.

Yếu tố nguy cơ của UTBT

Việc xác định phụ nữ có nguy cơ cao bị UTBT là vô cùng quan trọng vì như vậy, có thể chọn lựa được nhóm người có giá trị trong chiến lược tầm soát bệnh. Cho đến nay, một số lượng lớn các yếu tố nguy cơ gây bệnh đã được xác định và dưới đây là các yếu tố quan trọng nhất:

Yếu tố về gen

Nguy cơ UTBT được biết chắc chắn nhất hiện nay là tiền sử gia đình, yếu tố này hiện diện ở 10 – 15% phụ nữ bị bệnh UTBT. Đối với một phụ nứ có một hoặc nhiều thành viên trong gia đình bị UTBT cần phân biệt hai yếu tố: UTBT liên quan đến tiền sử gia đình hay hội chứng UTBT gia đình (hiếm gặp). Theo phân tích thống kê, những phụ nữ thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai trong mối liên hệ với người UTBT sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, tỷ lệ mắc bệnh ở tuổi 35 là 1,6 – 5%. Ngược lại, với hội chứng UTBT gia đình (di truyền), nguy cơ mắc bệnh rất cao (khoảng hơn 50%). Hội chứng UTBT gia đình không thường gặp, ước tính khoảng 5 – 10% các trường hợp. Hội chứng này bao gồm: Hội chứng UTBT – tuyến vú, hội chứng Lynch II, nó liên quan đến các ung thư đại tràng, vú, tử cung và UTBT với ung thư đại trực tràng không do polyp (di truyền). Hội chứng di truyền thường gặp nhất chính là hội chứng UTBT – tuyến vú. Phần lớn các gia đình này có đột biến gen BRCA1 & BRCA2. Tần suất mang đột biến gen BRCA khác nhau giữa các dân tộc. Dạng này hay gặp ở tuổi rất trẻ (dưới 50 tuổi) và xảy ra ở nhiều thành viên gia đình (từ 2 – 4 thế hệ).

Tuổi của người phụ nữ

Tần suất bị UTBT tăng lên theo tuổi. Ở độ tuổi 50 – 75, tần suất hàng năm là 50/100.000 người cao gấp 2 lần so với người trẻ hơn. Ở người trẻ, tần suất ung thư liên quan đến đột biến gen sẽ nhiều hơn và chẩn đoán trễ.

Yếu tố sinh sản:

Ở người có thai, tỉ lệ UTBT giảm 25-50%. Nguy cơ cũng giảm với số lần mang thai. Nguy cơ bị UTBT cũng giảm khi dùng thuốc ngừa thai (40%) và với thời gian dùng thuốc. Dùng thuốc ngừa thai 5 năm, những phụ nữ không con giảm được nguy cơ UTBT ngang mức những phụ nữ có con mà không dùng thuốc ngừa thai; sau 10 năm dùng thuốc, phụ nữ có tiền sử gia đình UTBT có thể giảm nguy cơ ngang mức phụ nữ không có tiền sử gia đình mà không dùng thuốc ngừa thai. Vì vậy có những khuyến cáo cho phụ nữ có đột biến gen BRCA dùng thuốc ngừa thai để ngừa UTBT.

Dùng thuốc ngừa thai làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng Các thủ thuật can thiệp sản phụ khoa

Nguy cơ UTBT giảm đi 15% sau khi thắt ống dẫn trứng hoặc cắt bỏ tử cung nhưng bảo tồn buồng trứng. Cơ chế bảo vệ trong những trường hợp này có liên quan đến sự suy giảm chức năng của buồng trứng, bảo vệ cũng do sự tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư ngoại sinh mà nó xâm nhập khoang màng bụng từ âm đạo. Thắt ống dẫn trứng hoặc cắt bỏ tử cung, cổ tử cung chống lại sự xâm nhập ngược dòng của yếu tố sinh ung thư từ âm đạo, vòi Fallop vào màng bụng.

Tính trạng vô sinh

Có thể làm tăng nguy cơ UTBT. Có sự tăng nhẹ nguy cơ UTBT ở những người bị lạc nội mạc tử cung và đặc biệt là vô sinh liên quan đế lạc nội mạc tử cung.

Những xét nghiệm tầm soát UTBT

Trên những nhóm phụ nữ có nguy cơ cao, người ta sẽ tiến hành các xét nghiệm để chọn lọc ra những người bị nghi ngờ là mắc UTBT giai đoạn sớm để chẩn đoán xác định. Gọi xét nghiệm tầm soát là thực hiện trên nhóm phụ nữ có nguy cơ cao mà không hề có triệu chứng nào của bệnh.

Siêu âm ổ bụng: phụ nữ cần phải được siêu âm định kỳ vùng chậu để phát hiện những bất thường của cơ quan sinh dục (nhất là buồng trứng). Hình ảnh bất thường của buồng trứng kết hợp với chất đánh dấu ung thư trong máu cho giá trị chẩn đoán cao.

Phết cổ tử cung (PAP’s mear): cũng có giá trị phát hiện 10-30% các truờng hợp UTBT.

Chất CA 125 trong máu: đây là một chất đánh dấu ung thư, nó tăng nồng độ trong máu có liên quan đến UTBT. Tuy nhiên trong những ung thư khác như đại tràng, tiền liệt tuyến, phổi thì nó cũng tồn tại.

Lysophosphatidic acid – lipid lysophosphatidic acid (LPA) trong máu có liên quan đến UTBT. LPA tăng ở 96% các bệnh nhân bị UTBT và hiện diện ở 90% khi bệnh ở giai đoạn I.

Các chất đánh dấu ung thư khác gồm: CA 72-4, Proteomics cũng hiện diện trong giai đọan sớm của UTBT, M-CSF, osteopontin, inhibin, kallikrein, OVX1.

Dùng thuốc ngừa thai làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.