Trà Việt xuyên thế kỷ
Đã đến lúc chúng ta cần biết một cách đầy đủ hơn về Trà nghệ Việt Nam và tôn vinh những di sản văn hoá trà mà thế hệ cha ông một thời gắn bó, dầy công vun đắp.
Trà cụ Việt
Không khẳng định có từ bao giờ, nhưng chắc chắn trà cụ Việt có từ thời Lý. Từ thế kỷ XV trở về sau đã xuất hiện thêm nhiều loại trà cụ thuần Việt và Bát Tràng từng là một trung tâm sản xuất trà cụ nổi tiếng Đại Việt. Những loại ấm chuyên bằng gốm men thế kỷ XI – XII cho biết lúc này đã khá thịnh hành ở Việt Nam . Ấm chuyên nhỏ thời Lý hình quả bí ngô nhiều múi men trắng ngà, nâu đen hoặc men da lươn, vai ấm trang trí bằng cánh sen nổi, hoặc gắn bông hoa nổi, cuống khắc chìm đã được phát hiện… Các nhà khảo cổ còn tìm thấy ấm trà tay quai hình con rồng ở vùng Thanh Hoá, Hoà Bình… Thế kỷ XIII – XIV việc uống trà phát triển mạnh hơn với nhiều kiểu ấm chuyên mới men ngà và lam mờ, men ngọc men nâu ( Đồ gốm trong văn hoá ẩm thức Việt Nam , tr 81).
![]() |
Nói về trà cụ Việt Nam không thể bỏ qua dòng trà cụ ký kiểu đặt tại Trung Hoa theo mẫu thiết kế của Đại Việt. Loại trà cụ này chỉ thịnh hành từ đầu thời Lê - Trịnh lan dần sang triều Nguyễn và mất hẳn vào cuối thế kỷ XIX. Đây là loại trà cụ bằng sứ vẽ men lam cao cấp đặt làm tại lò Cảnh Đức trấn nổi tiếng Trung Hoa. Toàn bộ trang trí, thiết kế mỹ thuật lại do các vua chúa và nghệ nhân Việt Nam nghĩ ra nên thắm đượm tâm hồn Việt, cảnh vật Việt. Chúng thật sự là một phần di sản vật thể quý báu, ẩn hiện phần nào đã mất của kinh đô Thăng Long, giúp chúng ta tìm lại được một quá khứ thời vàng son của ông cha. Một hiện vật giá trị của dòng trà cụ này còn được lưu giữ là một chiếc ấm trà có niên đại khá sớm vào đầu thế kỷ XVII thuộc Đoài Cung - Phủ chúa Trịnh. Chiếc ấm đã mất nắp được nhà sưu tập khéo léo kiếm một chiếc nắp vẽ rồng men lam hồi song nền men trắng già hơn men thân ấm. Nguyên thủy có thể nhà chúa (Thanh đô Vương Trịnh Tráng) đặt ấm không có quai cầm để chế tác thêm quai ấm bằng vàng (?) khi ngự dụng ấm trà. Hai bên thân ấm vẽ phụng bay trong mây, mặt sau ấm vẽ thạch trúc, phần bụng vòi ấm trang trí lá cúc cách điệu ( Cổ vật gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa). Cụ Vương Hồng Sển từng sưu tập được chiếc chén tống ký kiểu hiệu đề “Khánh Xuân Thị Tả” của chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm, vẽ men lam hồi rồng lớn năm móng bay lên không trung đối mặt với rồng nhỏ đang từ dưới biển rẽ sóng bay lên. Bộ trà cụ khá hoàn hảo còn lại có hiệu đề nội phủ trị hữu gồm một đĩa bàn lớn, một chén tống và hai chén quân. Đĩa bàn lớn 175 mm vẽ rồng 5 móng với chim phụng đích thị là đồ ngự dụng của nhà chúa và bà Tuyên phi. Đồ trà ký kiểu còn nguyên vẹn nhất là bộ đồ trà của vua Gia Long đặt làm năm Giáp Tý (1804) gồm một toán 3 quân đặt trên cùng một đĩa hàm ý vua tôi quây quần bên nhau hoài niệm một thời đồng cam cộng khổ phục quốc. Chỉ chín năm sau bộ đồ ký kiểu khác được Gia Long đặt làm đã trở về lối truyền thống một chén tống rên đĩa vẽ riêng rẽ với 4 chén quân, báo hiệu cho quy luật quân thần muôn đời chỉ có thể “cộng hoạn nạn mà không thể đồng phú quý” và hàng loạt các khai quốc công thần bị giết hại sau đó. Vua Gia Long còn một chiếc ấm cổ khác có thiết kế kiểu rất đặc biệt với vóc dáng vững chãi thanh thoát lại phảng phất hình dáng của chùa Thiên Mụ. Khuôn ấm kỷ niệm buổi đầu tạo dựng xứ Đàng Trong của Đoan quận công Nguyễn Hoàng. Dòng trà cụ ký kiểu còn lại khá phong phú với lọ đựng trà men bạch định hiệu đề Cảnh Thịnh nhị niên và chiếc ấm bát giác độc đáo đề Thiệu Trị niên tạo. Điều thú vị khi ta biết được trong nhà Chaigneau – viên quan người Pháp từng phụng sự tận tuỵ vua Gia Long sắp đặt đầy đủ trà cụ sành sỏi như một người Việt thực thụ. “… Khay thứ 2 đặt các tách uống trà… ở cửa sổ mặt tiền ngó ra ngoài có một cái bàn gỗ đặt các lò nấu bằng đồng, bằng đất nung dành nấu nước pha trà”.
Gặp gỡ chứng nhân trà nghệ Việt
Dã sử ghi nhận ở Việt Namđến đời Cảnh Hưng vẫn nhập các ấm trà như một mốt thời thượng, đồng thời cũng nói đến việc chế tác trà cụ ở Việt Nam . Điều đáng chú ý ở đây, danh sĩ Phạm Đình Hổ đã khẳng định bàn tay khéo léo của nghệ nhân Việt đã có thể chế tác rất nhanh những trà cụ nhập từ Trung Quốc một cách hoàn hảo. Điều này cho phép chúng ta nghĩ đến một nghề thủ công chế tác trà cụ bản địa phát triển mạnh mẽ đương thời Lê - Trịnh song hành với thời vàng son của trà cụ Trung Hoa. Xét trong lịch sử trà cụ Trung Hoa, Nhật Bản ta không hề thấy bóng dáng một loại trà cụ Thuần Việt rất độc đáo và đầy sáng tạo: Ấm Cù Lao. Ngược lại ấm trà Cù Lao được nhắc đến nhiều trong các văn phẩm Việt Nam . Có thể nói đây là sản phẩm của một công nghệ tích hợp tài tình “4 trong 1” đầy ngẫu hứng: Ấm đun nước, ấm pha trà, hoả lò và lò sưởi của ngành trà cụ Việt. Chính nó góp phần quan trọng tạo dựng nên hình ảnh một nền văn hoá trà đậm bản sắc Việt không thể nhầm lẫn. Qua nhiều tư liệu cổ cho phép khẳng định ấm Cù Lao được chế tác vào cuối thời Lê - Trịnh và chính những người thợ gò đồng lá Đại Bái là chủ nhân sáng tạo ra loại ấm độc đáo cùng lúc vừa đun nước, vừa pha trà lại vừă sưởi ấm ngày đông giá rét. Ấm được các bậc nghệ nhân tiền bối chế tác gồm 3 ngăn. Ngăn trong là hoả lò, ngăn ngoài vừa là siêu đun nước - vừa là ấm pha trà bao quanh hoả lò có vòi rót và quai cầm. Ngăn dưới là phần đáy thoát xỉ than hoa. Cả hai ngăn trên đều có nắp đậy. Ngăn dưới có nắp tháo rời được để xả bỏ vỉ than tro. Loại ấm đồng kỳ diệu này đến nay tưởng đã thất truyền chỉ còn trong ký ức… bỗng “tái xuất giang hồ” tại lễ hội trà Đà Lạt 2006 trong sự ngỡ ngàng, thán phục của giới hâm mộ trà thời hiện đại. Một trùng hợp thú vị, tại nhà ông Phạm Đình Nhân (Chủ tịch hội Cổ vật Thăng Long) có một loại “ấm tích hợp” 4 trong 1 khắc bằng gốm men nâu hoả biến có hình dáng khác biệt ấm Cù Lao nhưng cùng chức năng tương tự… Ấm Cù Lao quả là một sáng kiến tích hợp công nghệ chế tác hoàn hảo mà ngày nay ta quen gọi theo thuật ngữ @ là công nghệ 4 trong 1 (ấm trà – siêu nước - hoả lò – lò sưởi). Ưu điểm nổi trội của ấm Cù Lao là kiểm soát chính xác điểm nước sôi và có thể điều khiển nhiệt độ hãm trà theo ý muốn.
![]() |
Trải suốt hành trình hơn 10 thế kỷ, văn hoá trà Việt đã vật vã thăng trầm cùng lịch sử dân tộc để lại cho hậu thế ngày nay một nét văn hoá trà thấm đẫm bản sắc Việt. Trà nghiệp Việt Nam đã không ngừng vươn lên trong “Top 5” những nước sản xuất, xuất khẩu trà của thế giới. Theo dự báo của hiệp hội trà Việt Nam , doanh thu từ trà sẽ đạt con số 300 triệu USD rất ấn tượng vào năm 2011. Lễ hội trà Việt lần đầu tổ chức ở Đà Lạt tháng 12 năm 2006 đã gióng lên hồi chuông báo hiệu văn hoá trà Việt đang thức tỉnh sau giấc ngủ triền miên hơn nửa thế kỷ. Trà Việt đang rất cần sự góp sức chung vai của cả cộng đồng để tìm lại chính mình, phục hưng một thời vàng son của trà Việt.










