Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 30/03/2010 18:30 (GMT+7)

Trà Việt xuyên thế kỷ

Đã đến lúc chúng ta cần biết một cách đầy đủ hơn về Trà nghệ Việt Nam và tôn vinh những di sản văn hoá trà mà thế hệ cha ông một thời gắn bó, dầy công vun đắp.

Trà cụ Việt

Không khẳng định có từ bao giờ, nhưng chắc chắn trà cụ Việt có từ thời Lý. Từ thế kỷ XV trở về sau đã xuất hiện thêm nhiều loại trà cụ thuần Việt và Bát Tràng từng là một trung tâm sản xuất trà cụ nổi tiếng Đại Việt. Những loại ấm chuyên bằng gốm men thế kỷ XI – XII cho biết lúc này đã khá thịnh hành ở Việt Nam . Ấm chuyên nhỏ thời Lý hình quả bí ngô nhiều múi men trắng ngà, nâu đen hoặc men da lươn, vai ấm trang trí bằng cánh sen nổi, hoặc gắn bông hoa nổi, cuống khắc chìm đã được phát hiện… Các nhà khảo cổ còn tìm thấy ấm trà tay quai hình con rồng ở vùng Thanh Hoá, Hoà Bình… Thế kỷ XIII – XIV việc uống trà phát triển mạnh hơn với nhiều kiểu ấm chuyên mới men ngà và lam mờ, men ngọc men nâu ( Đồ gốm trong văn hoá ẩm thức Việt Nam , tr 81).

Thế kỷ XVII – XVIII trà cụ Việt đạt tới thời cực thịnh. Chắc chắn thế kỷ XVII – XVIII cùng với sự phát triển của trà nghiệp vàthú thưởng ngoạn trà rộng rãi trong cộng đồng dân cư mà công nghệ chế tác trà cụ Việt đã đạt đến mức hưng thịnh huy hoàng nhất, có phần không thua kém gì Trung Hoa. Thời Lê - Trịnh xuất hiện nhiềuloại ấm đồng có quai xách đúc bằng khuôn đất từ đồng nấu chảy ở làng Lương, tỉnh Bắc Ninh. Làng nghề Đại Bái lại chế tạo siêu đồng bằng các lá đồng dát mỏng gò cuốn và hàn với nhau. Những công cuộckhảo cổ gần đây còn cho phép chúng ta biết đến loại chén tống và chén quân thuộc dòng gốm ChuĐậu được vớt lên từ con tàu cổ “Cù Lao Chàm”. Bảo tàng Adam Malik Indonesia còn lưu giữ những trà cụ gốcViệt như bát gốm uống trà, đặc biệt nhất là bộ ấm chén khay trầu gốm liên hợp có niên đại thế kỷ XVIII mang phong cách rất Việt có một không hai. Nghệ nhân đã khéo léo chế tác kết hợp bộ ấm chén tràvà khay trầu vào làm một thật tài tình. Thế kỷ XVII – XVIII đồ gốm Cao Chi (Giao Chỉ) du nhập vào Nhật Bản và đã rất được ưa chuộng, bắt chước cho thấy đã có những bộ trà cụ Việt theo chân các thươngthuyền sang đất nước Phù Tang.

Nói về trà cụ Việt Nam không thể bỏ qua dòng trà cụ ký kiểu đặt tại Trung Hoa theo mẫu thiết kế của Đại Việt. Loại trà cụ này chỉ thịnh hành từ đầu thời Lê - Trịnh lan dần sang triều Nguyễn và mất hẳn vào cuối thế kỷ XIX. Đây là loại trà cụ bằng sứ vẽ men lam cao cấp đặt làm tại lò Cảnh Đức trấn nổi tiếng Trung Hoa. Toàn bộ trang trí, thiết kế mỹ thuật lại do các vua chúa và nghệ nhân Việt Nam nghĩ ra nên thắm đượm tâm hồn Việt, cảnh vật Việt. Chúng thật sự là một phần di sản vật thể quý báu, ẩn hiện phần nào đã mất của kinh đô Thăng Long, giúp chúng ta tìm lại được một quá khứ thời vàng son của ông cha. Một hiện vật giá trị của dòng trà cụ này còn được lưu giữ là một chiếc ấm trà có niên đại khá sớm vào đầu thế kỷ XVII thuộc Đoài Cung - Phủ chúa Trịnh. Chiếc ấm đã mất nắp được nhà sưu tập khéo léo kiếm một chiếc nắp vẽ rồng men lam hồi song nền men trắng già hơn men thân ấm. Nguyên thủy có thể nhà chúa (Thanh đô Vương Trịnh Tráng) đặt ấm không có quai cầm để chế tác thêm quai ấm bằng vàng (?) khi ngự dụng ấm trà. Hai bên thân ấm vẽ phụng bay trong mây, mặt sau ấm vẽ thạch trúc, phần bụng vòi ấm trang trí lá cúc cách điệu ( Cổ vật gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa). Cụ Vương Hồng Sển từng sưu tập được chiếc chén tống ký kiểu hiệu đề “Khánh Xuân Thị Tả” của chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm, vẽ men lam hồi rồng lớn năm móng bay lên không trung đối mặt với rồng nhỏ đang từ dưới biển rẽ sóng bay lên. Bộ trà cụ khá hoàn hảo còn lại có hiệu đề nội phủ trị hữu gồm một đĩa bàn lớn, một chén tống và hai chén quân. Đĩa bàn lớn 175 mm vẽ rồng 5 móng với chim phụng đích thị là đồ ngự dụng của nhà chúa và bà Tuyên phi. Đồ trà ký kiểu còn nguyên vẹn nhất là bộ đồ trà của vua Gia Long đặt làm năm Giáp Tý (1804) gồm một toán 3 quân đặt trên cùng một đĩa hàm ý vua tôi quây quần bên nhau hoài niệm một thời đồng cam cộng khổ phục quốc. Chỉ chín năm sau bộ đồ ký kiểu khác được Gia Long đặt làm đã trở về lối truyền thống một chén tống rên đĩa vẽ riêng rẽ với 4 chén quân, báo hiệu cho quy luật quân thần muôn đời chỉ có thể “cộng hoạn nạn mà không thể đồng phú quý” và hàng loạt các khai quốc công thần bị giết hại sau đó. Vua Gia Long còn một chiếc ấm cổ khác có thiết kế kiểu rất đặc biệt với vóc dáng vững chãi thanh thoát lại phảng phất hình dáng của chùa Thiên Mụ. Khuôn ấm kỷ niệm buổi đầu tạo dựng xứ Đàng Trong của Đoan quận công Nguyễn Hoàng. Dòng trà cụ ký kiểu còn lại khá phong phú với lọ đựng trà men bạch định hiệu đề Cảnh Thịnh nhị niên và chiếc ấm bát giác độc đáo đề Thiệu Trị niên tạo. Điều thú vị khi ta biết được trong nhà Chaigneau – viên quan người Pháp từng phụng sự tận tuỵ vua Gia Long sắp đặt đầy đủ trà cụ sành sỏi như một người Việt thực thụ. “… Khay thứ 2 đặt các tách uống trà… ở cửa sổ mặt tiền ngó ra ngoài có một cái bàn gỗ đặt các lò nấu bằng đồng, bằng đất nung dành nấu nước pha trà”.

Gặp gỡ chứng nhân trà nghệ Việt

Dã sử ghi nhận ở Việt Namđến đời Cảnh Hưng vẫn nhập các ấm trà như một mốt thời thượng, đồng thời cũng nói đến việc chế tác trà cụ ở Việt Nam . Điều đáng chú ý ở đây, danh sĩ Phạm Đình Hổ đã khẳng định bàn tay khéo léo của nghệ nhân Việt đã có thể chế tác rất nhanh những trà cụ nhập từ Trung Quốc một cách hoàn hảo. Điều này cho phép chúng ta nghĩ đến một nghề thủ công chế tác trà cụ bản địa phát triển mạnh mẽ đương thời Lê - Trịnh song hành với thời vàng son của trà cụ Trung Hoa. Xét trong lịch sử trà cụ Trung Hoa, Nhật Bản ta không hề thấy bóng dáng một loại trà cụ Thuần Việt rất độc đáo và đầy sáng tạo: Ấm Cù Lao. Ngược lại ấm trà Cù Lao được nhắc đến nhiều trong các văn phẩm Việt Nam . Có thể nói đây là sản phẩm của một công nghệ tích hợp tài tình “4 trong 1” đầy ngẫu hứng: Ấm đun nước, ấm pha trà, hoả lò và lò sưởi của ngành trà cụ Việt. Chính nó góp phần quan trọng tạo dựng nên hình ảnh một nền văn hoá trà đậm bản sắc Việt không thể nhầm lẫn. Qua nhiều tư liệu cổ cho phép khẳng định ấm Cù Lao được chế tác vào cuối thời Lê - Trịnh và chính những người thợ gò đồng lá Đại Bái là chủ nhân sáng tạo ra loại ấm độc đáo cùng lúc vừa đun nước, vừa pha trà lại vừă sưởi ấm ngày đông giá rét. Ấm được các bậc nghệ nhân tiền bối chế tác gồm 3 ngăn. Ngăn trong là hoả lò, ngăn ngoài vừa là siêu đun nước - vừa là ấm pha trà bao quanh hoả lò có vòi rót và quai cầm. Ngăn dưới là phần đáy thoát xỉ than hoa. Cả hai ngăn trên đều có nắp đậy. Ngăn dưới có nắp tháo rời được để xả bỏ vỉ than tro. Loại ấm đồng kỳ diệu này đến nay tưởng đã thất truyền chỉ còn trong ký ức… bỗng “tái xuất giang hồ” tại lễ hội trà Đà Lạt 2006 trong sự ngỡ ngàng, thán phục của giới hâm mộ trà thời hiện đại. Một trùng hợp thú vị, tại nhà ông Phạm Đình Nhân (Chủ tịch hội Cổ vật Thăng Long) có một loại “ấm tích hợp” 4 trong 1 khắc bằng gốm men nâu hoả biến có hình dáng khác biệt ấm Cù Lao nhưng cùng chức năng tương tự… Ấm Cù Lao quả là một sáng kiến tích hợp công nghệ chế tác hoàn hảo mà ngày nay ta quen gọi theo thuật ngữ @ là công nghệ 4 trong 1 (ấm trà – siêu nước - hoả lò – lò sưởi). Ưu điểm nổi trội của ấm Cù Lao là kiểm soát chính xác điểm nước sôi và có thể điều khiển nhiệt độ hãm trà theo ý muốn.

Khi vượng quốc gia như đang trở lại với con cháu, vậy nên chỉ chưa đầy 1 năm sau, chiếc ấm Cù Lao thứ hai đã được cụ Lê Văn Kinh(cụ Kinh vừa được phong tặng nghệ nhân thêu dân gian, hiện ngụ tại tiệm thêu Đức Thành, 82 Phan Đăng Lưu, Tp Huế) công bố giữa năm 2007. Chiếc ấm này mới hơn, dáng vẻ trau chuốt hơn so với chiếc ấm ởlễ hội Đà Lạt. Xét về tổng thể hai ấm này giống nhau về nguyên lý chế tác song ấm Cù Lao của cụ Kinh đã có những cải tiến một số chi tiết giúp thuận lợi hơn khi sử dụng (tay xách cao hơn tránh sứcnóng của miệng hoả lò, chỉ có một nắp đậy thay vì hai nắp phức tạp…). Chiếc ấm của cụ Kinh có niên đại cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX còn chiếc ấm đầu là sản phẩm được chế tác trước đó nên còn cónhững khiếm khuyết và không loại trừ có xuất xứ vào thời kỳ đầu của loại ấm Cù Lao ở cuối thế kỷ XVIII. Điều đặc biệt quý giá của chiếc ấm này bởi nó có lai lịch rõ ràng, thuộc dòng đồ gia bảo củaQuan tham tri bộ Lễ triều vua Khải Định - Cụ Nguyễn Văn Giáo truyền lại cho cháu ngoại mình. Năm nay 79 tuổi, cụ Kinh đang là nhân chứng hiếm hoi gần như duy nhất của trà nghệ cung đình Việt. Cũnggiống như nhiều dòng văn hoá khác, văn hoá viết về trà Việt cực kỳ quý hiếm. Tư liệu còn lại đến nay đếm được trên đầu ngón tay khiến thế hệ con cháu khó lòng tái dựng được nghệ thuật thưởng trà củacổ nhân. Hầu chuyện cùng cụ Kinh gần một ngày trời trong tiết mưa tầm tã xứ Huế, bên ấm trà nóng toả hương thuần khiết, giọng cụ Kinh trầm ấm, lúc xa lúc gần… nghệ thuật thưởng trà Việt xưa dường nhưtái hiện lại trong hương trà. Luận cứ trà nghệ Việt không dùng trà đồng như trà nghệ Trung Hoa, nay đã được cụ Kinh khẳng định là chính xác. Thuở niên thiếu, là cục “cưng” của ông ngoại cụ thườngđược ngồi “hóng chuyện” khi các cụ thưởng trà. Một viên lính lệ chuyên đun nước dưới bếp bằng một siêu đồng lá mỏng tanh rất chóng sôi. Khi sôi chuyển sang ấm Cù Lao đưa viên lính lệ khác dâng lên cụTham tri. Là chủ buổi thưởng trà, quan tham tri bộ Lê Nguyễn Văn Giáo luôn tự tay lau rửa, tráng ấm chén, chuẩn bị bàn trà và pha tuần trà đầu. Chủ trà nâng chén trà bằng hai tay mời khách cùng đồngẩm. Đợt đồng ẩm này như một nghi lễ bắt đầu cuộc thưởng trà. Khi ấy các lính lệ, cụ Kinh đều phải lui ra để các cụ đàm đạo. Đây chính là phong cách “Trà nô” do chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm khởi xướngvào cuối thế kỷ 18 và còn được lưu truyền trong dân gian tới ngày nay. Nghệ thuật “Trà nô” là nét đặc sắc, rất riêng ghi dấu ấn thời đại cực đỉnh hưng thịnh của trà nghệ Việt. Cụ Kinh cho biết quanTham tri thường tự nhận là “trà nô” trong những buổi thương trà. Sau tuần trà đầu, chủ nhân có thể uỷ quyền cho người ngồi bên phải kế mình pha trà mời khách cho tới hết buổi thưởng trà. Một viênlính lệ đứng xa, mặt cúi xuống phe phẩy hầu quạt các cụ. Người Việt luôn uống trà một tay, bằng cách xoay cổ tay để dùng chính bàn tay nâng chén trà vừa uống vừa che miệng. Đây cũng chính là điểmkhác biệt với kiểu thưởng trà hai tay lai Trung Hoa ở các quán trà hiện nay (một tay nâng chén trà, một tay che miệng uống như uống rượu). Ông cha ta luôn dùng chén Tống chuyên trà cho đều và để giữhương trà chứ không dùng cách rót “lia trà” thay cho chén Tống như thường thấy ngày nay. Phong cách thưởng trà Việt rất tinh tuý thâm sâu, chén trà đôi khi thay lời tỏ nỗi bất bình. Một khi phật ý,người thưởng trà dừng uống đổ ngay chén trà vào ống “phóng” (ống nhổ). Cách pha trà cũng rất đặc biệt, trước tiên đổ trà lên lòng bàn tay để ước lượng rồi cho vào ấm, chế nước sôi. Dùng đũa Ngà khuấyđều trong ấm rồi chuyên nước nhất ra chén Tống. Rót nước sôi vào ấm lắc nhẹ cho đều trà và tiếp tục pha nước hai vào chén Tống. Lúc này mới chuyên trà sang các chén quân mời khách. Chén trà thườngđược uống theo kiểu “ba hồi” (ba ngụm). Hồi một đưa chén trà lên nhấp môi nhẹ vừa để thưởng hương trà, vừa để thử độ nóng. Hồi hai uống chính để thưởng vị đậm đà tinh khiết rồi tiếp hồi ba uống gầnhết chén trà và “hồi” chén quân về khay. Trước khi hồi chén quân, các cụ thường dùng sức nóng ở thân chén lăn chườm lên mí mắt gọi là thuật “minh mục” giữ cho mắt sáng lâu dài… Một bộ trà cụ Việt màcụ Kinh rất nâng niu tới ngày nay là bộ chén trà với chất xương gốm có phần hơi thô nhưng màu men rạn trắng ngà thật kiêu sa. Miệng các chén trà nạm vành đồng thùa (một loại đồng pha tỷ lệ lớn vàngvà bạc) không bao giờ lên teng. Bộ chén đặc biệt này từng được các cụ Vương “gạ” đổi với bất kỳ món đồ cổ nào trong nhà cụ… song cụ không chịu cho cụ Kinh biết về nguồn gốc quý phái của món đồ. Giọngcụ Kinh bỗng trầm lắng xót xa… khi nhắc tới sự ra đi của kho báu vật ấy. Cụ Kinh vốn là bạn vong niên với cụ Vương Hồng Sển và nhà văn Sơn Nam nên trong loạn lạc năm 1975 theo ý kiến mọi người cụquyết định di tản kho báu vào Sài Gòn… và định mệnh bi thương đã đến với sự tan tác của những món gia bảo trong khói lửa chiến tranh. Số còn lại ít ỏi ở Huế cũng lần lượt “đội nói ra đi” để cưu mangcuộc sống gia đình chật vật. Nhờ trời, cụ vẫn còn lưu giữ được một số đồ gia bảo hiếm hoi trong đó có chiếc ấm Cù Lao độc đáo góp tiếng nói khẳng định công nghệ chế tác trà cụ Việt…

Trải suốt hành trình hơn 10 thế kỷ, văn hoá trà Việt đã vật vã thăng trầm cùng lịch sử dân tộc để lại cho hậu thế ngày nay một nét văn hoá trà thấm đẫm bản sắc Việt. Trà nghiệp Việt Nam đã không ngừng vươn lên trong “Top 5” những nước sản xuất, xuất khẩu trà của thế giới. Theo dự báo của hiệp hội trà Việt Nam , doanh thu từ trà sẽ đạt con số 300 triệu USD rất ấn tượng vào năm 2011. Lễ hội trà Việt lần đầu tổ chức ở Đà Lạt tháng 12 năm 2006 đã gióng lên hồi chuông báo hiệu văn hoá trà Việt đang thức tỉnh sau giấc ngủ triền miên hơn nửa thế kỷ. Trà Việt đang rất cần sự góp sức chung vai của cả cộng đồng để tìm lại chính mình, phục hưng một thời vàng son của trà Việt.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.