Tơ xanh
Mô tả
Dây leo thảo, nhẵn, mọc xoắn vào nhau, dạng sợi, thân màu lục sẫm, lá rất nhỏ, tiêu giảm thành vảy. Có vòi hút nhựa nguyên cây chủ, thân có lông mịn. Gié dài 2 – 5cm, hoa nhỏ, trắng, không cuống, xếp thành bông dài 1,5 – 5cm. Bế quả cứng, đen trong một bao hoa đồng trưởng.
Phân bố, sinh thái
Loài Tơ xanh phân bố rộng rãi khắp các vùng nhiệt đới ở cả hai bán cầu từ châu Phi đến châu Đại Dương và châu Á. Ở Việt Nam, Tơ xanh cũng phân bố phổ biến hầu như khắp các tỉnh miền núi (dưới 1.500m), trung du và đôi khi gặp cả ở các tỉnh đồng bằng ven biển và hải đảo.
Tơ xanh thường sống bán ký sinh trên các bụi cây, ra hoa quả nhiều hằng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Cây còn có khả năng tái sinh vô tính từ những đoạn thân, cành khi được tiếp xúc với cây chủ hoặc cây giá thể.
Thành phần hóa học
Tơ xanh có một lượng aporrphinoid alkaloid 0,43% gồm neolitsin, cassythin, dicentrin, actinodaphnin, neomolitsin, neolitsin và cassythidin, cathafilin, cathaformin, cassyformin, N –methy –lactinodaphnin, predicentrin và ocotein. Ngoài ra trong Tơ xanh còn có các hợp chất khác như: các hợp chất lignan, aldehyd thơm và phytosterol.
Bộ phận dùng
Toàn cây, thu hái quanh năm, chủ yếu vào mùa hè, cắt ngắn, rửa sạch, phơi khô trong bóng râm.
Tác dụng dược lý
Dịch chiết từ dây Tơ xanh có tác dụng giảm đột biến trên chủng Salmonella typhiA98 khi tiến hành thí nghiệm gây đột biến.
Aporphinoid alkaloid trong Tơ xanh là các độc tố tế bào, được khảo sát là có khả năng chống và ngăn ngừa các tế bào ung thư (thử nghiệm trên tế bào ung thư Hela), tác dụng kháng ký sinh trùng (thử nghiệm trên Tripanosoma brucei brucei).
Tịnh vị, công năng
Tơ xanh có vị ngọt, đắng, tính hàn vào 2 kinh can, thận, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, lợi tiểu.
Ở Việt Nam (theo TSKH Trần Công Khánh, TSKsố 270), nhân dân dùng Tơ xanh làm thuốc bổ chữa thận hư, liệt dương, mắt mờ, chân tay yếu mỏi. Ngày 10 - 20g sắc uống. Có thể phối hợp với Cà gai leo, Ngũ gia bì, Dây gắm, Dây đau xương. Còn dùng chữa lở loét. Ở Trung Quốc, Tơ xanh chữa phế nhiệt sinh ho, gầy mòn do can nhiệt, vàng da, ho ra máu, chảy máu mũi, mụn nhọt, bỏng.
Ở Ấn Độ, Tơ xanh chữa bẹnh gan mật, viêm niệu đạo, lỵ mạn tính, bệnh ngoài da, vết loét. Bột Tơ xanh trộn với dầu Vừng bôi làm thuốc dưỡng tóc. Ở Indonesia , Tơ xanh làm thuốc tẩy giun sán, phối hợp với Nhục đậu khấu chữa đau bụng, đau dạ dày. Ở Philippine, các thầy lang dùng nước sắc dây Tơ xanh tươi để thúc đẻ, quả Tơ xanh ăn với Trầu không chữa cảm lạnh. Ở châu Phi, nước sắc cây Tơ xanh dùng chữa bệnh cảm, bệnh ký sinh trùng hay bệnh ung thư.








