Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 06/06/2007 21:54 (GMT+7)

Tình hình phát triển điện hạt nhân trên thế giới

Mười năm sau Ob-nin-scơ, đến năm 1964 thế giới đã có 38 lò phản ứng năng lượng được khai thác trong 9 nước với tổng công suất 2487 MW. Một vài nước đang phát triển như Ấn Độ, Pakistan cũng đã hoàn thành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của mình. Năm 1974, 155 lò phản ứng năng lượng đã được đưa vào vận hành trong 19 nước, với tổng công suất 54516MW. Những con số này nói lên rất rõ quy mô và tốc độ phát triển của ngành năng lượng hạt nhân trong hai mươi năm đầu tiên. Khi công nghệ nhà máy điện hạt nhân được xác nhận và thành công qua thử thách thì cũng chính là lúc xảy ra cuộc khủng hoảng lớn về giá cả dầu mỏ năm 1973, nhờ đó tình hình kinh tế của điện hạt nhân cũng được khẳng định.

Trong điều kiện đó, một số nước đã dứt khoát chọn con đường phát triển điện hạt nhân, trong đó có nhiều nước đang phát triển. Ngoài lý do kinh tế của điện hạt nhân, các nước đi vào sử dụng điện hạt nhân ở thời gian đó còn dựa vào sự phân tích cho thấy ưu điểm của năng lượng hạt nhân trên các phương diện sau:

§Khả năng đóng góp mang tính quyết định vào việc giải quyết hợp lý vấn đề sử dụng nhiên liệu khoáng, làm giảm bớt áp lực của nhu cầu đối với các nguồn nhiên liệu hữu cơ, nhất là dầu mỏ;

§Khả năng đa dạng hóa việc cung cấp năng lượng, làm cho một số quốc gia bớt gặp căng thẳng trong việc giải quyết nhu cầu năng lượng, bớt lệ thuộc vào sự nhập khẩu;

§Khả năng bảo vệ môi trường tốt hơn hẳn so với các nhà máy nhiệt điện truyền thống.

Một điểm đáng chú ý ở thời điểm “chuyển pha” này của điện hạt nhân là trường hợp của Pháp, khi quyết định bước vào xây dựng một chương trình hạt nhân toàn diện và mạnh mẽ, đã đổi hướng kỹ thuật, bỏ loại lò UNGG do mình tự phát triển để chọn loại lò nước nén PWR nhập kỹ thuật của Mỹ chủ yếu do những cân nhắc về tính kinh tế.

Tuy nhiên, những dự báo về phát triển điện hạt nhân từ giữa những năm bảy mươi đã quá lạc quan so với khả năng thực tế, cho nên sau đó đã phải liên tục điều chỉnh theo hướng cắt giảm. Tình hình này xảy ra ở các nước tư bản phát triển cũng như ở các nước thuộc khối SEV. Bước sang những năm tám mươi, tốc độ tăng trưởng về sản lượng điện hạt nhân vẫn còn cao, nhưng tốc độ đầu tư xây dựng nhà máy mới có chiều hướng giảm dần, nhất là vào những năm cuối của thập kỷ. Những số liệu dự báo cho năm 2000 phải liên tục điều chỉnh theo hướng cắt giảm. Tình huống này có liên quan đến việc xem xét lại chính sách phát triển năng lượng nói chung và điện hạt nhân nói riêng ở nhiều nước, trong đó có vấn đề an toàn điện hạt nhân có những tác động quan trọng, nhất là sau các sự cố Three Mile Island (Hoa Kỳ) và Tréc-nô-bưn (Liên Xô).

Xem xét số liệu thống kê về nhá máy điện hạt nhân từ những năm tám mươi cho đến gần đây, có thể có những nhận xét như sau:

Năm 1998, thế giới có 434 lò phản ứng năng lượng, so với 297 lò năm 1982, tăng 46,1%. Thời gian có mức tăng có ý nghĩa là vào những năm: 1984 (tăng 16,2% so với hai năm trước đó). 1986 (tăng 15,1%), 1988 (tăng 8,1%). Trong 8 giai đoạn 2 năm, thì có 3 giai đoạn tăng khá (từ 8 đến 16%), 3 giai đoạn tăng kém (từ 0,2 đến 2,3%) và 2 giai đoạn giảm nhẹ (1,4 và 3,6%). Các giai đoạn tăng khá là từ 1982 đến 1988, còn lại những năm sau có tăng, có giảm nhưng không nhiều. Giữa 1988 và 1998, số nhà máy điện hạt nhân tăng ít (1,2%).

Các quốc gia và lãnh thổ đã có lò phản ứng năng lượng đang hoạt động vào cuối năm 1998 gồm 33 quốc gia và lãnh thổ. Theo cách sắp xếp đã trình bày trên đây, thì vào cuối năm 1982 mới chí có 24 quốc gia và lãnh thổ, như vậy số lượng quốc gia, lãnh thổ đã tăng đường 37,5% trong khoảng thời gian 1982-1998 (nhưng cũng cần để ý tới những thay đổi số lượng do sự phân bố lại của các quốc gia có nhập và có tách).

Các quốc gia đang sử dụng nhiều lò phản ứng năng lượng (10 lò trở lên)gồm 11 quốc gia: Hoa Kỳ (104 lò), Pháp (58 lò), Nhật (53 lò), Anh (35 lò), Nga (29 lò), Đức (20 lò), Ucraina (16 lò), Hàn Quốc (15 lò), Canađa (14 lò), Thụy Điển (12 lò) và Ấn Độ (10 lò). Trong số đó, trong khoảng thời gian 1982 - 1998, năm quốc gia không hề giảm số lò phản ứng năng lượng gồm: Pháp (từ 32 lò lên 58 lò, tăng 81,3%), Nhật (từ 25 lên 53 lò, tăng 112%), Hàn Quốc (từ 2 lên 15 lò, tăng 650%), Thụy Điển (từ 10 lên 12 lò, tăng 20%), và Ấn Độ (từ 4 lên 10 lò, tăng 150%). Riêng Nga và Ucraina có các số liệu xuất hiện từ 1992, số lò phản ứng năng lượng cũng không hề giảm trong khoảng 1992 - 1998: Nga từ 28 lên 29 lò, tăng 3,6%, Ucraina từ 15 lên 16 lò, tăng 6,7%. Số liệu của Hoa Kỳtăng liên tục từ 1982 đến 1990 (từ 80 lên 112 lò), từ đó theo chiều hướng giảm (từ 112 xuống còn 104 lò), tuy vậy thời kỳ 1982 - 1998 vẫn còn tăng 30%. Số liệu của Anh tăng liên tục từ 1982 đến 1988 (từ 32 lên 40 lò) sau đó theo chiều hướng giảm (từ 40 xuống còn 35 lò), tuy vậy trong khoảng 1982 - 1998 vẫn còn tăng 9,4%, Đức và Canada có số lò phản ứng năng lượng năm 1998 bằng năm 1982: số liệu của Đức tăng đều từ 1982 đến 1988 (từ 20 lên 28 xuống còn 20 lò); số liệu của Canađa tăng đều từ 1982 đến 1994 (từ 14 lên 22 lò), sau đó giảm nhanh từ 1994 đến 1998 (từ 22 xuống còn 14 lò). Số liệu của Liên Xô trong giai đoạn 1982 đến 1990 thì phần đầu (1982 - 1988) tăng liên tục (từ 40 lên 56 lò), và trong hai năm cuối giảm xuống còn 45 lò, tổng hợp lại vẫn còn tăng 12,5%. Tóm lại nếu tính cho giai đoạn 1982 - 1998 cho các quốc gia loại này, thì không nước nào có số liệu lò phản ứng năng lượng bị giảm sút, ngoài hai nước có số liệu không tăng (Đức và Canađa), số nước còn lại đều có số liệu tăng, từ 9,4% (Anh) đến 650% (Hàn Quốc). Có 5 nước số liệu tăng đều trong toàn giai đoạn.

Các quốc gia, lãnh thổ có số lò phản ứng năng lượng từ 5 lò trở lên đến 9 lò gồm Tây Ban Nha (9 lò), Bỉ (7 lò), Bungari (6 lò), Đài Loan (6 lò), Thụy Sĩ (5 lò), Xlôvakia (5 lò). Tây Ban Nha phát triển nhanh số lò trong giai đoạn 1982 – 1988 (từ 4 lò lên 10 lò), sau đó duy trì số lò ổn định ở mức 9 lò cho đến năm 1998; mức tăng so với 1982 là 125%. Bỉ tăng từ 6 lò năm 1982 lên 8 lò năm 1986, rồi duy trì số lò ổn định ở mức 7 lò cho đến năm 1988; mức tăng so với năm 1982 là 16,7%. Đài Loan có số liệu tăng đều từ 4 lò năm 1982 lên 6 lò năm 1986 và giữ ổn định cho đến năm 1998, mức tăng so với năm 1982 là 50%. Thụy Sĩ tăng từ 4 lò năm 1982 lên 5 lò năm 1984 rồi giữ ổn định cho đến năm 1998, mức tăng so với năm 1982 là 25%. Số liệu của Xlôvakia bắt đầu từ 1992 với 4 lò, tăng lên 5 lò năm 1998 (25%). Nếu lấy số liệu của Tiệp Khắc cũ từ năm 1982 với 2 lò, tăng liên tục đến 8 lò năm 1990, và gộp số liệu của Séc và Xlôvakia, thì số liệu của Tiệp Khắc và 2 quốc gia này tăng liên tục trong giai đoạn 1982 – 1988 từ 2 lò lên 9 lò (350%). Tóm lại, đối với các quốc gia, lãnh thổ có số lò phản ứng năng lượng từ 5 lò trở lên đến 9 lò, tất cả đều có số lò tăng từ 16,7% (Bỉ) đến 350% (cụm Tiệp Khắc cũ – Séc và Xlôvakia).

Số quốc gia có nhà máy điện hạt nhân còn lại gồm: Phần Lan (4 lò), Hunggari (4 lò), Séc (4 lò), Trung Quốc (3 lò), Acgentina (2 lò), Mêxicô (2 lò), Lituania (2 lò), Nam Phi (2 lò), Ácmênia, Baraxin, Cadăcxtan, Hà Lan, Pakixtan, Rumani và Xlôvênia (mỗi nước 1 lò). Trong số đó, có mặt ngay từ 1982 gồm các quốc gia Phần Lan (4 lò), Acgentina (1 lò), Braxin (1 lò), Hà Lan (2 lò), Pakixtan (1 lò), Xlôvênia (Nam Tư cũ 1 lò). Gộp tất cả các nước loại này, trong thời gian 1982 – 1998 thì mức tăng là 114,3%.

Tóm lại, 30 năm đầu tiên (1954 – 1986) phát triển rất tích cực, sau đó tốc độ phát triển điện hạt nhân của các nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển có từ 10 lò phản ứng năng lượng trở lên nói chung có chiều hướng chậm lại. Tuy nhiên trong số các nước này, chưa có nước nào có số nhà máy điện hạt nhân ít hơn so với đầu những năm tám mươi và hơn nữa, còn khoảng trên một nửa số nước đó vẫn đang có số nhà máy điện hạt nhân chưa hề giảm từ đầu những năm tám mươi đến nay. Đối với các quốc gia, lãnh thổ có số lò phản ứng năng lượng từ 5 đến 9 lò, tất cả đều có số lò tăng (từ 16,7% đến 350%). Đối với các quốc gia có nhà máy điện hạt nhân với số lượng lò phản ứng năng lượng ít hơn 5 lò, nếu gộp tất cả các nước lại thì mức tăng vẫn còn khá quan trọng (114,3%). Chỉ riêng có Italia là thôi không còn sử dụng điện hạt nhân.

Lịch sử điện hạt nhân thế giới khái quát có thể chia thành các thời kỳ sau:

Trước 1974: Thời kỳ này các nước làm điện hạt nhân lấy mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ làm trọng tâm. Lúc này công nghệ điện hạt nhân chưa thương mại hóa cao, chiến tranh lạnh đang hồi cao trào, các cuộc đối đầu toàn cầu cũng như khu vực đòi hỏi các nước phải tự phấn đấu để giành được ưu thế cho mình.

1974-1986: Sau khủng hoảng dầu lửa 73 –74, an ninh năng lượng đã trở thành mục tiêu số một. Do công nghệ điện hạt nhân đã được thương mại hóa, các nước nhập khẩu dầu mỏ khẩn trương phát triển điện hạt nhân để giảm phụ thuộc. Tỷ trọng điện hạt nhân trên thế giới trong vòng 10 năm tăng gần gấp hai lần (từ 9% lên 17%).

1986 – 1997: Sau sự cố Trécnobưn, sự chấp nhận của công chúng với điện hạt nhân giảm mạnh, đồng thời với việc tăng cao các nhu cầu an toàn làm giảm sức cạnh tranh của điện hạt nhân. Lúc này các nước xây dựng điện hạt nhân chủ yếu dựa trên các yếu tố đáp ứng nhu cầu điện và có hiệu quả kinh tế.

Tình hình điện hạt nhân hiện nay và dự báo phát triển điện hạt nhân trên thế giới

Bảng 1: Những nước có tỷ lệ điện hạt nhân cao nhất (1998)
Bảng 1: Những nước có tỷ lệ điện hạt nhân cao nhất (1998)
Nghiên cứu các số liệu về tình hình phát triển điện hạt nhân trên thế giới vào thời điểm 31/12/1998, có thể nhận xét như sau:

a. Có 434 lò phản ứng dang hoạt động ở 32 nước, với tổng công suất là 348.891 MW, tổng sản lượng là 2.291,09 tỷ kWh/năm.

b. Có 36 lò đang xây dựng tại 16 nước, trong đó có hai nước chưa có điện hạt nhân là Iranvà Cuba .

c. Điện hạt nhân chiếm 17% tổng sản lượng điện thế giới. Những nước có tỷ lệ điện hạt nhân cao nhất được ghi trong bảng 1.

Bảng 2: Tỷ lệ các loại nguồn cho sản xuất điện (1995)
Bảng 2: Tỷ lệ các loại nguồn cho sản xuất điện (1995)
Từ bảng 2 cung cấp các số liệu về tỷ lệ các nguồn điện của một số nước, có thể nhận xét như sau:

1. Các nước đều ưu tiên tận dụng nhiên liệu tại chỗ. Mỹ, Đức, Ấn Độ và Trung Quốc ưu tiên sử dụng than; Canađa, Thụy Điển, Việt Nam tận dụng thủy điện.

2. Trừ một số nước mới bắt đầu phát triển điện hạt nhân, hoặc đặc biệt như Pháp, các nước đều có một tổ hợp nguồn điện, trong đó điện hạt nhân có vai trò nhất định.

Dự báo sau Hội nghị Kyoto năm 1997, yếu tố môi trường toàn cầu sẽ trở thành quyết định cho việc phát triển điện hạt nhân. Dần dần điện hạt nhân sẽ chứng tỏ tính ưu việt ề môi trường và sẽ bước vào thời kỳ phục hưng.

Sau 2050: Yếu tố an ninh năng lượng và môi trường sẽ trở nên quan trọng do nguy cơ cạn kiệt các dạng tài nguyên dầu khí sẽ ngày càng rõ. Điện hạt nhân sẽ phát triển với các công nghệ mới có tính cách mạng.

Bảng 3: Xu hướng phát triển điện trên thế giới (Dự báo ngắn hạn). Tài liệu: Asian Power, Vol.4, No.1 2/2006
Bảng 3: Xu hướng phát triển điện trên thế giới (Dự báo ngắn hạn). Tài liệu: Asian Power, Vol.4, No.1 2/2006
Bảng 3 cung cấp xu hướng phát triển điện cho đến năm 2010. Bảng 4 cung cấp dự báo phát triển dài hạn của điện hạt nhân.

Từ dự báo ngắn hạn, có thể thấy xu hướng tăng trưởng về sử dụng khí rất rõ. Điện hạt nhân giảm nhẹ về tỷ lệ nhưng vẫn tăng trưởng đáng kể về sản lượng tuyệt đối, cùng một xu thế với than, dầu và thủy điện.

Bảng 4: Dự báo dài hạn phát triển điện hạt nhân. Tài Liệu: The Nuclear, Power Option, Proc. of Inter. Conf., Vienna. 9/1994.
Bảng 4: Dự báo dài hạn phát triển điện hạt nhân. Tài Liệu: The Nuclear, Power Option, Proc. of Inter. Conf., Vienna. 9/1994.
Từ dự báo dài hạn, từ sau 2015 điện hạt nhân có thể sẽ tăng trưởng mạnh mẽ, ý này cũng trùng với đánh giá của nhiều nhà khoa học. Thậm chí theo tạp chí Tech. Forecasting Social Change V.59,No.1, 9/1998 (Tạp chí KHCN&MT), Bộ KHCN&MT, No.6. 1999), vào năm 2020 tỷ lệ điện hạt nhân thế giới có thể đạt tới 50%.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.