Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Chủ nhật, 23/12/2007 22:20 (GMT+7)

Tình hình phân bón vụ hè thu, vụ mùa và vụ đông 2007, dự kiến nhu cầu phân bón năm 2008

1. Phân bón vụ Hè Thu, vụ Mùa và vụ Đông năm 2007

Hiện nay toàn bộ diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa đang được chăm sóc, nhu cầu phân bón cho sản xuất vụ Thu Đông ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cần phải cung ứng chậm nhất đến ngày 30/9/2007, Vụ Đông ở các tỉnh phía Bắc sẽ bắt đầu từ cuối tháng 9/2007, do vậy nhu cầu phân bón cả nước từ nay đến cuối năm cần khoảng 300 nghìn tấn ure, trong đó miền Bắc cần 180 nghìn tấn cho chăm sóc lúa vụ mùa và sản xuất vụ Đông; miền Trung cần khoảng 70 nghìn tấn để sản xuất lúa vụ mùa và rau; mền Nam cần khoảng 210 nghìn tấn để sản xuất lúa vụ Thu Đông và các cây trồng khác. Về khả năng nguồn cung cấp: nguồn sản xuất của hai nhà máy phân đạm ở trong nước có thể đạt 350 nghìn tấn, lượng phân nhập khẩu phân đạm cho đến nay đạt ở mức 200 nghìn tấn. Hiện nay một lượng đạm đáng kể đang được xuất khẩu từ Việt Nam sang Campuchia và Lào khoảng 100 nghìn tấn. Do vậy nguồn phân bón còn lại khoảng 450 nghìn tấn, cơ bản đủ cung cấp cho sản xuất các vụ còn lại từ nay đến cuối năm.

Hiện nay, giá phân bón trên thị trường trong nước đang có xu hướng dừng hoặc giảm nhẹ. Giá phân bón ure của nhà máy phân đạm Phú Mỹ đang ở mức 4.050 – 4.100 đồng/kg, giảm khoảng 200 đồng/kg so với tháng trước và giảm từ 500 – 700 đồng/kg so với 3 tháng trước đây. Giá phân bón giảm, có nguyên nhân từ việc nhập khẩu tiểu ngạch từ Trung Quốc với giá rẻ hơn so với con đường nhập khẩu chính ngạch từ các nước khác trên thế giới làm cho các doanh nghiệp nhập khẩu và sản xuất phân bón NPK trong nước có xu hướng xuất khẩu phân bón ra nước ngoài để đem lại hiệu quả sản xuất cho đơn vị mình.

2. Nhu cầu phân bón cho năm 2008

Đối với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, thời gian cần cung ứng phân bón cho vụ Đông xuân bắt đầu từ khoảng 15/10/2007 còn đối với các tỉnh phía Bắc bắt đầu từ tháng 1/2008. Nhu cầu phân bón cho vụ Đông xuân và cả năm 2008 dự tính như sau:

Nhu cầu phân bón năm 2008 cho từng vùng và từng vụ

Loại phân-mùa vụ

Cả nước

Miền Bắc

Miền trung

Miền Nam

1. Phân Urê

1.900

600

300

1.000

- Đông xuân

1.010

330

130

550

- Hè thu

470

70

100

300

- Mùa

420

200

70

150

2. Phân SA

500

130

130

240

- Đông xuân

260

70

60

130

- Hè thu

120

20

40

60

- Mùa

120

40

30

50

3. Phân Kali

700

200

100

400

- Đông xuân

360

100

60

200

- Hè thu

150

30

20

100

- Mùa

190

70

20

100

4. Phân DAP

700

50

50

600

- Đông xuân

400

50

50

300

- Hè thu

160

-

-

160

- Mùa

140

-

-

140

5. Phân lân

1.300

350

250

700

- Đông xuân

750

200

150

400

- Hè thu

400

50

100

250

- Mùa

150

100

-

50

6. Phân NPK

2500

700

500

1300

- Đông xuân

1400

400

300

700

- Hè thu

490

50

90

350

- Mùa

610

250

110

250

Phân đạm:Nhà máy phân đạm Hà Bắc được nâng cấp có khả năng sản xuất 150 nghìn tấn/năm. Nhà máy phân đạm Phú Mỹ có khả năng sản xuất 750 nghìn tấn/năm, sản lượng năm 2008 đạt khoảng 900 nghìn tấn,đáp ứng được khoảng 46% nhu cầu sử dụng đạm của cả nước, cần nhập khẩu khoảng 1 triệu tấn.

Phân lân:Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao có công suất 850.000 tấn/năm; Nhà máy Supe phốt phát Long Thành (Đồng Nai) có thể sản xuất 120 nghìn tấn/năm. Sản lượng của hai nhà máy đạt 870.00 tấn/năm, đủ cung cấp phân bón supe lân cho sản xuất trong nước. Hai nhà máy sản xuất phân lân nung chảy là Văn Điển và Ninh Bình có tổng công suất đạt khoảng 400.000 tấn/năm. Lượng phân lân sản xuất trong nước đảm bảo đủ cung cấp cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp.

Phân kali:Toàn bộ lượng phân kali 700 nghìn tấn đều phải nhập khẩu do Việt Nam không có mỏ kali.

Phân NPK phối trộn:Các nhà máy sản xuất phân bón NPK phối trộn chủ yếu do Tổng công ty hoá chất đảm nhiệm sản xuất. Nhà máy của các địa phương, các công ty liên doanh với nước ngoài có thể đạt 3.000.000 tấn/năm nếu sản xuất hết công suất, đủ cung cấp lượng phân bón NPK phối trộn cho nhu cầu trong nước.

Phân hữu cơ sinh học:Phát triển sản xuất phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh từ các mỏ than bùn trên từng vùng sinh thái, các loại phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh của các nhà máy mía đường đạt 500.000 tấn/năm.

3. Các giải pháp về phân bón cho sản xuất nông nghiệp

- Kết quả kiểm tra về tình hình sản xuất, kinh doanh phân bón của các doanh nghiệp ở 10 tỉnh thành phố của Cục Trồng trọt trong tháng 7/2007 cho thấy: vẫn tồn tại trôi nổi trên thị trường những loại phân bón chưa đăng ký vào Danh mục phân bón; vẫn còn tồn tại các doanh nghiệp sản xuất phân bón với quy mô nhỏ, ít vốn, sản xuất mang tính chất thời vụ, nhà xưởng tạm bợ, không có phòng kiểm tra chất lượng và không có hợp đồng phân tích chất lượng cho từng lô sản phẩm, không có hoặc chỉ thuê cán bộ chuyên môn trên hình thức không thường xuyên tự kiểm tra chất lượng sản phẩm tạo ra, do vậy không đáp ứng được điều kiện sản xuất phân bón và sản xuất ra các sản phẩm phân bón không đảm bảo chất lượng.

- Các địa phương cần chủ động nắm sát tình hình cung cầu phân bón trong phạm vi địa phương, theo dõi kịp thời diễn biến về giá và lượng phân bón sản xuất trên địa bàn và lượng phân bón chuyển từ địa phương khác để tính toán nhu cầu cho sản xuất trong phạm vi của địa phương.Cục Trồng trọt sẽ tổ chức lớp tập huấn về xây dựng cơ sở dữ liệu phần mềm quản lý phân bón, trong đó tập trung vào các nội dung: Dự báo nhu cầu sử dụng cho từng mùa vụ, các loại cây trồng cho từng địa phương… đề nghị các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham dự đầy đủ để nắm vững nội dung, nghiệp vụ và triển khai thực hiện đồng loạt trên phạm vi toàn quốc. 

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn tình trạng các cơ sở sản xuất cung ứng phân bón đưa phân bón giả, phân bón kém chất lượng ra thị trường, tập trung kiểm tra các cơ sở sản xuất phân bón nhỏ lẻ, điều kiện, máy móc, thiết bị sản xuất không đảm bảo cho ra các sảm phẩm phân bón đúng với chất lượng như đã công bố. Cục Trồng trọt sẽ tổ chức các lớp đào tạo người lấy mẫu phân bón cho tất các các đối tượng có liên quan để đảm bảo việc lấy mẫu kiểm tra chất lượng được thống nhất theo quy chuẩn trên phạm vi toàn quốc.

- Khuyến cáo tăng cường sử dụng phân hữu cơ truyền thống được ủ theo đúng phương pháp, đảm bảo vệ sinh môi trường để hạ giá thành sản xuất, phân bón hữu cơ không chỉ bổ sung nguồn dinh dưỡng mà còn có vai trò quan trọng giúp duy trì độ phì đất do cải thiện được tính chất vật lý, tính chất sinh học đất, làm cho đất tơi xốp, tăng khả năng giữ nước, tăng cường sự hoạt động của các vi sinh vật trong đất hơn...

- Thực hiện bón phân cân đối, đối với phân bón lót và bón cho cây trồng cạn cần phải bón sâu, bón vùi, lấp đất để hạn chế sự bay hơi, rửa trôi, tăng cường hiệu suất sử dụng phân bón và giảm áp lực về sử dụng phân đạm nhập khẩu. Các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long cần chỉ đạo mở rộng diện tích thực hiện theo phức 3 giảm, 3 tăng. Hiện nay diện tích được áp theo phương thức trên vẫn còn rất thấp chỉ chiếm khoảng 20-25% tuỳ vào từng địa phương. Hướng dẫn cho nông dân các địa phương cách sử dụng phương pháp so màu lá lúa để bón phân đúng thời điểm, tránh lãng phí.

- Tăng cường thực hiện chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là chương trình sản xuất rau an toàn để cung cấp cho xã hội các sản phẩm rau đảm bảo VSATTP, trong đó cần chú ý hạn chế việc sử dụng các loại phân bón hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng được sản xuất từ nguồn rác thải công nghiệp, rác thải đô thị bón trực tiếp cho rau ăn lá…

Nguồn: cuctrongtrot.gov.vn

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.