Tình hình phân bón vụ hè thu, vụ mùa và vụ đông 2007, dự kiến nhu cầu phân bón năm 2008
1. Phân bón vụ Hè Thu, vụ Mùa và vụ Đông năm 2007
Hiện nay toàn bộ diện tích gieo cấy lúa vụ Mùa đang được chăm sóc, nhu cầu phân bón cho sản xuất vụ Thu Đông ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cần phải cung ứng chậm nhất đến ngày 30/9/2007, Vụ Đông ở các tỉnh phía Bắc sẽ bắt đầu từ cuối tháng 9/2007, do vậy nhu cầu phân bón cả nước từ nay đến cuối năm cần khoảng 300 nghìn tấn ure, trong đó miền Bắc cần 180 nghìn tấn cho chăm sóc lúa vụ mùa và sản xuất vụ Đông; miền Trung cần khoảng 70 nghìn tấn để sản xuất lúa vụ mùa và rau; mền Nam cần khoảng 210 nghìn tấn để sản xuất lúa vụ Thu Đông và các cây trồng khác. Về khả năng nguồn cung cấp: nguồn sản xuất của hai nhà máy phân đạm ở trong nước có thể đạt 350 nghìn tấn, lượng phân nhập khẩu phân đạm cho đến nay đạt ở mức 200 nghìn tấn. Hiện nay một lượng đạm đáng kể đang được xuất khẩu từ Việt Nam sang Campuchia và Lào khoảng 100 nghìn tấn. Do vậy nguồn phân bón còn lại khoảng 450 nghìn tấn, cơ bản đủ cung cấp cho sản xuất các vụ còn lại từ nay đến cuối năm.
Hiện nay, giá phân bón trên thị trường trong nước đang có xu hướng dừng hoặc giảm nhẹ. Giá phân bón ure của nhà máy phân đạm Phú Mỹ đang ở mức 4.050 – 4.100 đồng/kg, giảm khoảng 200 đồng/kg so với tháng trước và giảm từ 500 – 700 đồng/kg so với 3 tháng trước đây. Giá phân bón giảm, có nguyên nhân từ việc nhập khẩu tiểu ngạch từ Trung Quốc với giá rẻ hơn so với con đường nhập khẩu chính ngạch từ các nước khác trên thế giới làm cho các doanh nghiệp nhập khẩu và sản xuất phân bón NPK trong nước có xu hướng xuất khẩu phân bón ra nước ngoài để đem lại hiệu quả sản xuất cho đơn vị mình.
2. Nhu cầu phân bón cho năm 2008
Đối với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, thời gian cần cung ứng phân bón cho vụ Đông xuân bắt đầu từ khoảng 15/10/2007 còn đối với các tỉnh phía Bắc bắt đầu từ tháng 1/2008. Nhu cầu phân bón cho vụ Đông xuân và cả năm 2008 dự tính như sau:
Nhu cầu phân bón năm 2008 cho từng vùng và từng vụ
Loại phân-mùa vụ | Cả nước | Miền Bắc | Miền trung | Miền Nam |
1. Phân Urê | 1.900 | 600 | 300 | 1.000 |
- Đông xuân | 1.010 | 330 | 130 | 550 |
- Hè thu | 470 | 70 | 100 | 300 |
- Mùa | 420 | 200 | 70 | 150 |
2. Phân SA | 500 | 130 | 130 | 240 |
- Đông xuân | 260 | 70 | 60 | 130 |
- Hè thu | 120 | 20 | 40 | 60 |
- Mùa | 120 | 40 | 30 | 50 |
3. Phân Kali | 700 | 200 | 100 | 400 |
- Đông xuân | 360 | 100 | 60 | 200 |
- Hè thu | 150 | 30 | 20 | 100 |
- Mùa | 190 | 70 | 20 | 100 |
4. Phân DAP | 700 | 50 | 50 | 600 |
- Đông xuân | 400 | 50 | 50 | 300 |
- Hè thu | 160 | - | - | 160 |
- Mùa | 140 | - | - | 140 |
5. Phân lân | 1.300 | 350 | 250 | 700 |
- Đông xuân | 750 | 200 | 150 | 400 |
- Hè thu | 400 | 50 | 100 | 250 |
- Mùa | 150 | 100 | - | 50 |
6. Phân NPK | 2500 | 700 | 500 | 1300 |
- Đông xuân | 1400 | 400 | 300 | 700 |
- Hè thu | 490 | 50 | 90 | 350 |
- Mùa | 610 | 250 | 110 | 250 |
Phân đạm:Nhà máy phân đạm Hà Bắc được nâng cấp có khả năng sản xuất 150 nghìn tấn/năm. Nhà máy phân đạm Phú Mỹ có khả năng sản xuất 750 nghìn tấn/năm, sản lượng năm 2008 đạt khoảng 900 nghìn tấn,đáp ứng được khoảng 46% nhu cầu sử dụng đạm của cả nước, cần nhập khẩu khoảng 1 triệu tấn.
Phân lân:Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao có công suất 850.000 tấn/năm; Nhà máy Supe phốt phát Long Thành (Đồng Nai) có thể sản xuất 120 nghìn tấn/năm. Sản lượng của hai nhà máy đạt 870.00 tấn/năm, đủ cung cấp phân bón supe lân cho sản xuất trong nước. Hai nhà máy sản xuất phân lân nung chảy là Văn Điển và Ninh Bình có tổng công suất đạt khoảng 400.000 tấn/năm. Lượng phân lân sản xuất trong nước đảm bảo đủ cung cấp cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp.
Phân kali:Toàn bộ lượng phân kali 700 nghìn tấn đều phải nhập khẩu do Việt Nam không có mỏ kali.
Phân NPK phối trộn:Các nhà máy sản xuất phân bón NPK phối trộn chủ yếu do Tổng công ty hoá chất đảm nhiệm sản xuất. Nhà máy của các địa phương, các công ty liên doanh với nước ngoài có thể đạt 3.000.000 tấn/năm nếu sản xuất hết công suất, đủ cung cấp lượng phân bón NPK phối trộn cho nhu cầu trong nước.
Phân hữu cơ sinh học:Phát triển sản xuất phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh từ các mỏ than bùn trên từng vùng sinh thái, các loại phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh của các nhà máy mía đường đạt 500.000 tấn/năm.
3. Các giải pháp về phân bón cho sản xuất nông nghiệp
- Kết quả kiểm tra về tình hình sản xuất, kinh doanh phân bón của các doanh nghiệp ở 10 tỉnh thành phố của Cục Trồng trọt trong tháng 7/2007 cho thấy: vẫn tồn tại trôi nổi trên thị trường những loại phân bón chưa đăng ký vào Danh mục phân bón; vẫn còn tồn tại các doanh nghiệp sản xuất phân bón với quy mô nhỏ, ít vốn, sản xuất mang tính chất thời vụ, nhà xưởng tạm bợ, không có phòng kiểm tra chất lượng và không có hợp đồng phân tích chất lượng cho từng lô sản phẩm, không có hoặc chỉ thuê cán bộ chuyên môn trên hình thức không thường xuyên tự kiểm tra chất lượng sản phẩm tạo ra, do vậy không đáp ứng được điều kiện sản xuất phân bón và sản xuất ra các sản phẩm phân bón không đảm bảo chất lượng.
- Các địa phương cần chủ động nắm sát tình hình cung cầu phân bón trong phạm vi địa phương, theo dõi kịp thời diễn biến về giá và lượng phân bón sản xuất trên địa bàn và lượng phân bón chuyển từ địa phương khác để tính toán nhu cầu cho sản xuất trong phạm vi của địa phương.Cục Trồng trọt sẽ tổ chức lớp tập huấn về xây dựng cơ sở dữ liệu phần mềm quản lý phân bón, trong đó tập trung vào các nội dung: Dự báo nhu cầu sử dụng cho từng mùa vụ, các loại cây trồng cho từng địa phương… đề nghị các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham dự đầy đủ để nắm vững nội dung, nghiệp vụ và triển khai thực hiện đồng loạt trên phạm vi toàn quốc.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn tình trạng các cơ sở sản xuất cung ứng phân bón đưa phân bón giả, phân bón kém chất lượng ra thị trường, tập trung kiểm tra các cơ sở sản xuất phân bón nhỏ lẻ, điều kiện, máy móc, thiết bị sản xuất không đảm bảo cho ra các sảm phẩm phân bón đúng với chất lượng như đã công bố. Cục Trồng trọt sẽ tổ chức các lớp đào tạo người lấy mẫu phân bón cho tất các các đối tượng có liên quan để đảm bảo việc lấy mẫu kiểm tra chất lượng được thống nhất theo quy chuẩn trên phạm vi toàn quốc.
- Khuyến cáo tăng cường sử dụng phân hữu cơ truyền thống được ủ theo đúng phương pháp, đảm bảo vệ sinh môi trường để hạ giá thành sản xuất, phân bón hữu cơ không chỉ bổ sung nguồn dinh dưỡng mà còn có vai trò quan trọng giúp duy trì độ phì đất do cải thiện được tính chất vật lý, tính chất sinh học đất, làm cho đất tơi xốp, tăng khả năng giữ nước, tăng cường sự hoạt động của các vi sinh vật trong đất hơn...
- Thực hiện bón phân cân đối, đối với phân bón lót và bón cho cây trồng cạn cần phải bón sâu, bón vùi, lấp đất để hạn chế sự bay hơi, rửa trôi, tăng cường hiệu suất sử dụng phân bón và giảm áp lực về sử dụng phân đạm nhập khẩu. Các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long cần chỉ đạo mở rộng diện tích thực hiện theo phức 3 giảm, 3 tăng. Hiện nay diện tích được áp theo phương thức trên vẫn còn rất thấp chỉ chiếm khoảng 20-25% tuỳ vào từng địa phương. Hướng dẫn cho nông dân các địa phương cách sử dụng phương pháp so màu lá lúa để bón phân đúng thời điểm, tránh lãng phí.
- Tăng cường thực hiện chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là chương trình sản xuất rau an toàn để cung cấp cho xã hội các sản phẩm rau đảm bảo VSATTP, trong đó cần chú ý hạn chế việc sử dụng các loại phân bón hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng được sản xuất từ nguồn rác thải công nghiệp, rác thải đô thị bón trực tiếp cho rau ăn lá…
Nguồn: cuctrongtrot.gov.vn








