Tìm hiểu chứng nấc trong thương hàn luận
Điều văn này tiếp theo điều 231 sách Thương hàn luận nói về “tam đương hợp bệnh”. Điều văn nói “không có lý chứng nào khác” là chỉ vào các triệu chứng hiện ra trong điều 231 đã hoàn toàn tiêu trừ mà chỉ đơn thuần tồn tại mạch tương phù. Đó là dấu hiệu biểu chứng thái dương chưa giải, có thể dùng ma hoàn thang phát hãn. Tinh thần trong điều 232 là đống nhất với điều 37 sách Thương hàn luận nói: “ngực đầy tức, sườn đau, dùng tiểu sài hồ thang điều trị, nếu mạch chỉ có tượng phù, dùng ma hoàn thang”.
Triệu chứng không tiểu tiện là nặng hơn tiểu tiện khó. Bụng đầy trướng gia thêm triệu chứng nấc là nặng hơn thường thường oẹ khan. Sách Nội Kinh Tố Vân nói: “bệnh nặng phát ra nấc”. Bụng đầy trướng là trung thổ đã suy bại. Các triệu chứng đó nói lên rằng: Vị khí đã kiệt, tam tiêu không còn lưu thông, khí cơn nghẽn tắc, tà không đường ra. Cho nên tiên lượng là chứng bất trị.
Về nguyên tắc điều trị chứng nấc thực tính, điều 381 sách Thương hàn luận ghi như sau: “bệnh thương hàn phát nấc mà lại thấy bụng đầy trướng, nên xem xét tình hình đại tiện, tiểu tiện của người bệnh. Thấy phương diện nào không thông lợi thì dùng phương pháp nhân thế lợi đạo, bệnh có thể khỏi hoàn toàn”.
- Nấc là một loại triệu chứng do cơ chế vị khí không giáng xuống, có rất nhiều nguyên nhân bệnh. Nhưng nhìn khái quát cũng không ngoài hai thể bệnh: hư và thực. Chứng nấc thuộc hư, thanh âm rất yếu, rời rạt, lâu mới lại thấy phát ra một lần, như thiên bảo mệnh toàn thần luận sách Tố Vân nói: “bệnh nặng phát ra nấc”. Đó là biểu hiện của vị khí sắp bại tuyệt. Đó là triệu chứng nấc thuộc hư tính.
- Ngoài ra, tham khảo điều 194 sách Thương hàn luận nói: bệnh dương minh, không ăn được, công vào nhiệt, tấc phát sinh nấc. Đó là cơ chế trong vị hư lạnh. Người bệnh vốn hư, công vào nhiệt tấc phát sinh nấc. Xem thêm điều 226 sách Thương hàn luận nói: nêu trong vị hư lạnh, không ăn được, uống nước thì phát sinh triệu chứng nấc. Điều 232 nói: bụng đầy trướng gia thêm nấc là bấc trị. Các điều văn nói trên đây đều bàn về chứng nấc thuộc hư.
Chứng nấc thuộc thực phát sinh do khí của vị thế vị thực, cho nên nấc có âm thanh vang to, liên tục phát ra. Ngoài ra tham khảo thêm điều 231 sách Thương hàn luận nói: “tiểu tiện khó, có trào nhiệt, thường thường oẹ khan”. Điều 98 nói: “ăn cơm vào thì nấc” đều là thực chứng.
Đại tiện tiểu tiện không thông lợi cũng có thể gây ra nấc. Như điều 111 sách Thương hàn luận nói: “hoặc là không đại tiện, lâu ngày phát sinh nói sảng, nặng thì gây ra nấc”. Điều 231 nói: tiểu tiện khó, thường thường nấc (có sách nói oẹ khan).
Chứng nấc nói trong điều 381 trên đây có kiêm triệu chứng bụng đầy trướng là thuộc thực chứng. Nhưng nên tiến sâu thêm một bước tìm hiểu nguyên nhân gây ra nấc. Nguyên tắc điều trị chứng nấc nói trong điều văn này là xem xét tình hình đại tiện, tiểu tiện của người bệnh. Nếu thấy tiểu tiện không thông thì nên lợi tiểu, nếu thấy đại tiện táo kết thì nên thông đại tiện. Căn nguyên bệnh tiêu trừ các bệnh chứng nấc, bụng đầy trướng sẽ hết.
Từ một chứng nấc suy ra, chẩn đoán và điều trị mọi chứng bệnh khác đều cần phân ra hư chứng, thực chứng mà sử lý, mới có thể nâng cao hiệu quả điều trị.
Chứng nấc vô luận là thuộc hàn hay nhiệt thuộc hư hay thực đều là thuộc cơ chế bệnh phần khí, nếu khí cơ không nghịch lên tất nhiên không thể phát sinh chứng nấc.
Điều 231 bàn về chứng nấc (có sách nói là oẹ khan) nói là do kinh khí thiên dượng bán biểu, bán lý bất hoà tạo thành, cho nên điều trị dùng tiểu sài hồ thang hoà giải. Điều 381 nói là do lý thực không thông, khí co không tiết xuống được mà nghịch lên trên sinh ra nấc, cho nên điều trị tuỳ theo tình hình tiểu tiện hay đại tiện không thông mà xử lý. Điều 232 nói là thuộc bế chứng, khi tam tiêu không lưu thông, tà khí không có đường ra, cho nên tiên lượng là chứng bất trị.
Tìm hiểu chứng phiền táo, sách Thương hàn luận rất chú trọng phân ra các thể hàn nhiệt, hư, thực để có phương pháp xử lý thích đáng.
Trường hợp cấm dùng cứu pháp phát sinh biến chứng, điều 116 sách Thương hàn luận nói “bệnh nhân mạch tương vi mà sác, không thể dùng phương pháp điều trị”. Nếu như lầm dùng cứu pháp, do hoả trợ giúp tà khí, sẽ tạo thành biến chứng quấy rối bên trong mà gây ra phiền loạn không yên. Cứu pháp làm thương tổn âm dịch, trợ giúp nhiệt tà, nhiệt bức bách huyết dịch, lưu tán trong mạch, làm mất thường độ. Hoả lực của mồi ngải tuy nhỏ, nhưng công vào trong đó có sức phi thường, làm thương tổn gân xương, hư hao huyết dịch, khó hồi phục được.
Mạch tượng phù, điều trị nên dùng phương pháp phát hãn, mà lầm dùng giải cứu điều trị, khiến cho bạch tà không thể theo đường mồ hôi ra ngoài, do hoả mà bệnh nặng. Người bệnh từ thắt lưng trở xuống có cảm giác nặng nề, tê bại. Đó là chứng hoả nghịch. Nếu như cơ thể tự động giải trừ, tất trước hết phát sinh tâm bứt rứt. Sau khi bứt rứt, ra mồ hôi thì bệnh giải. Vì thấy mạch tượng phù, cho nên biết rằng mồ hôi ra là bệnh khỏi.
Điều 116 có thể chia làm 3 đoạn phân tích:
Đoạn 1 từ “bệnh nhân mạch tượng bi mà sác...” đến “hư hao huyết dịch khó hồi phục được”. Chứng hàn do dương hư, điều trị dùng cứu pháp có công hiệu rõ. Chứng hàn do âm hư, nếu lầm dùng cứu pháp chẳng những không có hiệu quả mà còn tạo thành nhiều biến chứng. Mạch tượng vi là huyết thiểu, sác là có nhiệt. Đó là mạch tượng âm hư nội nhiệt, đáng lẽ dùng phương pháp cam hàn tư nhuận thanh nhiệt dưỡng huyết dễ thoái nhiệt hồi âm, lại lầm dùng cứu pháp tầt là hoả nhiệt càng thịnh, phần âm thương tổn gây ra tâm thần phiền loạn không yên. Huyết đã hư lại dùng hoả pháp làm cho hư thêm. Âm dịch bất túc, dương khí thiên thắng, huyết dịch hao tổn, gân xương suy yếu nghiêm trọng. Nên gấp dùng phương pháp tư dưỡng dinh huyết bổ cứu, may ra mới khỏi nguy hiểm.
Đoạn 2 từ “mạch phù...” đến “chứng hoả nghịch”. Mạch tượng phù là bệnh tà tại biểu, điều trị nên giải biểu phát hãn. Biểu ta theo mồ hôi ra là bệnh khỏi. Lầm dùng hoả pháp, bệnh tà chẳng những không theo đường mồ hôi giải ra ngoài mà càng thêm mạnh, làm thương tổn dinh huyết. Tà khí gây chướng ngại dinh khí vận hành không thông. Từ thắt lưng trở xuống phát sinh cảm giác nặng nề tê bại.
Đoạn 3 từ “cơ thể tự động giải trừ...” đến mồ hôi là bệnh khỏi”. Nếu như người bệnh chính khí mạnh, bệnh tà vẫn có khả năng giải trừ ra ngoài. Khi đó, thấy xuất hiện triệu chứng tâm thần phiền loạn, đó là biểu hiện của chính khí chống bệnh tà, tiên phiêu của mồ hôi ra, mạch tượng phù là dấu hiệu bệnh tà, còn ở phần biểu, cho nên biết rằng mồ hôi ra là bệnh giải trừ.
Qua sự phân tích trên đây, ta thấy rằng trong chẩn đoán phối hợp triệu chứng với mạch tượng để phân tích một cách toàn diện là có ý nghĩa trọng yếu của bệnh cơ liệu pháp.








