Tiến tới hiện đại hoá y dược học cổ truyền từ “thanh huyết” đến “kháng oxy – hoá”
Thầy thuốc y học cổ truyền chắc chắn ai cũng nằm lòng nguyên tắc “thanh nhiệt lương huyết”, khi đối đầu với bệnh gọi là huyết nhiệt. Nhưng với các nhà điều trị y học hiện đại thì định nghĩa này hãy còn quá mù mờ vì “hạ nhiệt” (thanh nhiệt) tuy không khó hiểu về mặt dược lý nhưng “mát máu” (lương huyết) thì đúng là khó đoán là về phía tác dụng!
Trước hết, nếu dựa vào hai tiếng “thanh nhiệt” để đánh giá các loại dược thảo thuộc nhóm này như thuốc hạ sốt thì không hẳn đúng, vì đa số cây thuốc “thanh nhiệt” không có tác dụng giảm thân nhiệt rõ ràng và với thời gian bắt đầu tác dụng (on set of action) nhanh như các dược thảo thuộc nhóm “giải cảm”, hay nếu so sánh với thuốc trị cảm cúm phổ thông của Tây y, như với paracetamol. Cũng không hoàn toàn chính xác nếu xếp loại các vị thuốc thanh nhiệt vào nhóm cây thuốc có tác dụng “kháng sinh” (antibiotics) vì thuốc tuy có tác dụng kháng sinh nhưng không đặc hiệu và thời gian kéo dài tác dụng không bằng các thuốc kháng sinh đời mới. Do đó, theo kết quả so sánh đã được thực hiện dựa trên biểu đồ biến đổi của thân nhiệt và kháng sinh đồ, không cần thiết phải dùng thuốc “thanh nhiệt lương huyết” để thay thế thuốc cảm hay thuốc kháng sinh của Tây y trong trường hợp cấp tính.
Nhưng nhóm dược liệu “thanh huyết”; mặt khác lại có nhiều lợi điểm cho mục tiêu điều trị nhiều bệnh kết hợp Đông - Tây y, hay với vai trò hỗ trợ trong phác đồ điều trị nhiều bệnh chứng mãn tính nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu trên nhiều lô bệnh nhân với thành phẩm có chứa các dược liệu “thanh huyết” điển hình như Bồ công anh, Kim ngân hoa, Nhân trần, Thương nhĩ tử, Cam thảo... cho thấy:
![]() |
| Bồ công anh |
- Thuốc có tác dụng cải thiện vận tốc lắng máu (VS) trên bệnh nhân dị ứng ngoài da sau hai tuần dùng thuốc. Bên cạnh đó, triệu chứng lâm sàng của đối tượng bị mụn trứng cá vì rối loại nội tiết tố giảm thiểu rõ rệt với thời gian hiệu quả trung bình là 4 tuần. Riêng với bệnh nhân dị ứng thực phẩm với hàm lượng kháng thể IgM tăng cao, thuốc cho thấy tác dụng về mặt sinh hoá cũng như trên lâm sàng ngay trong tuần đầu dùng thuốc. Lợi điểm của thuốc “thanh huyết” là tuy chống dị ứng nhưng không gây hiện tượng bần thần, mệt mỏi, biếng ăn.... như đa số thuốc chống dị ứng Tây y.
- Thuốc có tác dụng hạ axit uric trên bệnh nhân thống phong(gout). Trị số xét nghiệm càng cao thuốc càng có tác dụng nhanh. Tác dụng của nhóm thuốc “thanh huyết” rõ ràng có tính chất cộng hưởng với thuốc hoá chất như allopurinol nên nhà điều trị có thể giảm đến phân nửa liều thường dùng của dược phẩm tổng hợp mà vẫn có tác dụng như mong muốn.
- Thuốc có tác dụng hạ men gan SGOT, SGPT và GTT trên bệnh nhân viêm ga do rượusau 4 tuần dùng thuốc. Hơn thế nữa, trị số HDL cũng được cải thiện cho thấy việc dùng thuốc thanh huyết lâu dài trên bệnh nhân viêm gan, thiểu năng mạch vành, đái tháo đường, tăng chất mỡ trong máu là biện pháp an toàn. Ngoài ra, xét nghiệm nước tiểu và độ cồn trong hơi thở cho thấy thuốc “thanh huyết” có khả năng gia tốc phản ứng đào thải cồn ethanol qua đường tiểu. Nhận xét này có thể góp phần mở rộng chỉ định của thuốc “thanh huyết” như phương tiện “giải rượu” sau khi bị say.
- Nhưng quan trọng hơn hết theo đánh giá của chúng tôi trên bệnh nhân hậu ung thư là tác dụng cải thiện dưỡng khí nội bào của dược liệu thuốc nhóm “thanh huyết” thông qua phương pháp xác định hàm lượng PO 2và PCO 2trong mao mạch. Một bằng chứng cụ thể về tác dụng “kháng oxy – hoá” của thuốc “thanh huyết” là dấu hiệu trở lại trị số bình thường của PSA trên 23 bệnh nhân trong nhóm 30 đối tượng đã được xác minh về tình trạng phì đại tiền liệt tuyến kèm theo với trị số bệnh lý của PSA. Tất nhiên, còn cần thêm nhiều kết quả nghiên cứu, nhưng thuốc “thanh huyết” dù sao cũng nên được áp dụng một cách định kỳ cho bệnh nhân có vấn đề với hệ thống miễn dịch như trong giai đoạn tiền và hậu ưng thư, cũng như để dự phòng các căn bệnh thời đại có liên quan đến phản ứng “oxy - hoá” như cườm mắt, cao huyết áp, thấp khớp, nhồi máu cơ tim, lão hoá sớm....
Thuốc “thanh huyết” từ dược thảo Đông y nên được chú trọng nhiều hơn không chỉ vì số lượng bệnh nhân thuộc nhóm “máu nóng” càng lúc càng tăng do nhịp sống căng thẳng ở thế kỷ 21, mà vì tính cất đa dạng của nhóm dược phẩm này. Biết cách tận dụng mặt mạnh của thuốc “thanh huyết” để linh động phối hợp trong nhiều phác đồ điều trị, thầy thuốc, dù theo Đông hay Tay y cũng thế, chắc chắn có thêm trong tay phương tiện hiệu quả để xây dựng hiệu năng “kép”, vừa tăng cường tác dụng mong muốn của biện pháp, vừa thu ngắn liệu trình, nghĩa là gián tiếp giới hạn phản ứng phụ của dược phẩm từ hoạt chất tổng hợp.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 330, 15 - 4 - 2007, tr 6









