Tiêm ngấm điều trị viêm mỏm trên lồi cầu
Các cơ chế
Chỗ bám của gân chung bị viêm, nguyên nhân cơ học do sử dụng quá mức: thể thao (quần vợt), lao động chân tay với cử động lặp đi lặp lại…
Hai nguyên nhân khácgây triệu chứng gần giống: dây thần kinh quay bị chèn ép ở khuỷu; khớp xương cánh tay – xương quay bị thương tổn.
Lâm sàng
Đau khu trú chính yếu ở mỏm trên lồi cầu có thể lan đến cẳng tay, gây ra hay tăng thêm bởi vài cử động hay khi sờ hoặc gõ nhẹ.
Các thao tác sinh đau(thực hiện ở tư thế khuỷu tay thẳng ra và cườm tay quay sấp): đặt một lực cản (đè nhẹ) ở mặt lưng các xương bàn tay để đánh giá cơ duỗi ngắn quay cổ tay; một lực cản (đè nhẹ) ở mặt các đốt một của ngón tay giữa và ngón áp út (số 4) để đánh giá cơ duỗi chung các ngón tay. Không xảy ra biến đổi gì về dạng vẻ tại chỗ cũng như di động khớp. Khuỷu bị hạn chế duỗi là dấu hiệu có vấn đề khớp chen vào.
Các khám nghiệm bổ sung
Chụp X quang khuỷu taycó thể cho thấy viền quanh mỏm trên lồi cầu không đều hay vi vôi hoá quanh mỏm trên lồi cầu.
Điện cơ đồ hay chụp X quang cắt lớp chỉ có ích trong trường hợp triệu chứng không điển hình hướng chẩn đoán về dây thần kinh quay bị chèn ép ở khuỷu tay hay một bệnh lý của khớp xương cánh tay – xương quay.
Chữa trị
Thích nghi với khung cảnh: Đau nhiều và liên tục hạn chế cử động có tiên lượng xấu.
Chất lượng và thời gian nghỉ ngơi là quan trọng: Không thể khỏi nếu không loại bỏ nguyên nhân gây đau: ngưng hoạt động thể thao, thay đổi cách thao tác lao động.
Các phương thức chữa trị: Các thuốc giảm đau, kháng viêm không steroid, thoa, xức tại chỗ hay uống hoặc tiêm, cho hiệu năng khiêm tốn. Trong thực tế thường có bổ sung thêm: vật lý trị liệu, vận động trị liệu, xoa bóp, các lối trị bằng máy điện (đèn chiếu, rung…).
Tiêm ngấm
Đây là cách thường được sử dụng nhất để qua cơn đau dữ dội hay khi các lối chữa trị khác bị thất bại.
Hydrocortancyl (acétate de prednisolone), kháng viêm khá mạnh, ít làm teo mô liên kết, hạp với tất cả bệnh lý ngoài khớp ở khuỷu, đặc biệt gân của mỏm trên lồi cầu nơi mà mỏm có vị trí nông.
Một thuốc tê (xyclocaine 1%) có thể kết hợp.
Kỹ thuật: người bệnh nằm ngửa, khuỷu tay gấp, cườm tay và bàn tay quay sấp. Đánh dấu điểm tiêm. Thanh trùng rộng bằng thuốc có màu. Dùng kim 16 m/m, 5/10 eđầu kim dưới da chính xác, chạm vào chỗ bám gân, không đâm vào gân.
Dùng 0,5 đến 1ml hydrocortancyl trộn với từng ấy xyclocaine 1%; tiêm xong, dán lên băng keo cá nhân.
Số lần tiêm tuỳ bệnh lý và thời gian bệnh trước kia. Nếu lần tiêm ngấm đầu mà đạt kết quả tốt thì không cần tiếp tục. Ngược lại, có thể tiếp tục1, thậm chí 2, không khi nào đến 3 lần, cách nhau 5 – 7 ngày.
Trường hợp mắc lại, nghiên cứu điều trị lại như cũ.
Rắc rối và biến chứng: Lớp dưới da tại chỗ teo và mất sắc tố (đổi màu) tại chỗ tiêm, có khi kèm theo tăng cảm giác khi sờ nhẹ phía ngoài khuỷu tay; hoại tử lớp mỡ dưới da. Biến chứng loại corticoid fluoré hay kỹ thuật không đúng.
Nhắc lại về giải phẫu học
Đầu dưới xương cánh tay có 2 mỏm (H1) mỏm trên lồi cầu bên (ngoài) và mỏm trên ròng rọc (trong). Các cơ mỏm trên lồi cầu (cơ quay nhất và nhì, cơ duỗi chung các ngón tay và cơ ngửa ngắn) giúp duỗi cườm tay và các ngón và quay ngửa cườm tay bám vào mỏm trên lồi của bên bằng một gân chung (H.2).
Vùng được da mỏng và bờ phủ lên (H3).








