Thuốc trị tiêu chảy, vài điều cần lưu ý
Bệnh nhân tiêu chảy cấp làm cản trở sinh hoạt và công việc, gây mệt mỏi do mất nước và chất điện giải, riêng với người già và trẻ nhỏ, tác hại còn lớn hơn rất nhiều có thể dẫn tới tử vong nếu không kịp thời bù nước và chất điện giải.
Khi mắc bệnh, người bệnh và thân nhân thường rất sốt ruột, muốn tìm kiếm một loại thuốc nào có thể cầm tiêu chảy càng nhanh càng tốt nên sẵn sàng uống rất nhiều thuốc mà quên một việc quan trọng đó là cần phải bù nước và chất điện giải cho người bệnh bằng dung dịch Oresol (ORS), 1 gói pha trong 1 lít nước đun sôi để nguội hoặc dung dịch muối đường (một muỗng cà phê gạt bằng muối và 8 muỗng cà phê gạt bằng đường pha trong 1 lít nước uống được).
Đối với thuốc dùng tronh bệnh tiêu chảy cấp, có một số điều cần lưu ý:
+ Loperamid: là một dạng opiat tổng hợp, có tác dụng điều trị triệu chứng trong các trường hợp tiêu chảy cấp không rõ nguyên nhân. Liều dùng thông thường cho người lớn 6 – 8 mg/ngày, không dùng cho trẻ dưới 6 tuổi. Thuốc làm giảm nhu động ruột, tăng trương lực cơ thắt hậu môn. Do giảm nhu động ruột nên thuốc kéo dài thời gian vận chuyển trong ruột, vì thế mà hạn chế được phần nào sự mất nước và chất điện giải. Tuy vậy, cũng do làm giảm nhu động ruột nên thuốc có thể trì hoãn việc đào thải vi khuẩn cũng như độc tố của chúng ra khỏi đường ruột và có thể gây tăng sinh vi khuẩn trong đường ruột, làm kéo dài thời gian bị bệnh. Ngoài ra, thuốc có khả năng gây táo bón hoặc liệt ruột.
Loperamid chỉ điều trị triệu chứng, làm giảm số lần và sự gấp gáp trong mỗi lần đi tiêu chứ thật sự bệnh chưa phải đã khỏi nên vẫn phải chú ý đến việc bù bước và chất điện giải, nhất là đối với trẻ nhỏ. Sau 2 ngày dùng thuốc mà không thấy giảm nên đến khám sức khoẻ.
+ Các thuốc hấp phụ và làm đặc phân như than hoạt, atapulgit, kaolin.... Khi uống vào, thuốc trải thành màng mỏng bao phủ niêm mạc đường tiêu hoá và hút nước, trương nở khiến phân trông đặc hơn. Những thuốc này được sử dụng với mục đích hấp phụ những tác nhân gây bệnh và độc tố của chúng rồi theo phân ra ngoài. Tuy nhiên, thuốc không giảm sự tiết dịch ở đường ruột và không rút ngắn thời gian bị tiêu chảy. Thuốc làm tăng độ đặc của phân nhờ hút dịch trong đường ruột chứ không ngăn chặn được sự mất nước và chất điện giải. Khi cho trẻ dùng những thuốc nhóm này, các bà mẹ cần lưu ý, đừng vì thấy phân trẻ đặc lại mà xao lãng việc bù nước và dung dịch điện giải. Không dùng thuốc nhóm này quá 1 tuần. Nhóm thuốc này cản trở sự hấp thu của những thuốc khác nên uống cách xa khoảng 2 tiếng.
+ Thuốc kháng tiết racecadotril, acetorphan. Các thuốc này ức chế men enkephaliase, bảo vệ và kéo dài tác dụng kháng tiết của enkephailin nội sinh nên có tác dụng giảm tiết dịch tại ruột. Đây là những chất kháng tiết ở ruột một cách thuần tuý, làm giảm sự mất nước và chất điện giải. Thuốc chỉ có tác động ngoại biên, không qua hàng rào máu não nên không có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, không gây cảm giác ngầy ngật, buồn ngủ, không gây trướng bụng hay táo bón. Thuốc được dùng điều trị trong những trường hợp tiêu chảy cấp ở cả người lớn lẫn trẻ em, có tác dụng nhanh, giúp giảm thời gian bị bệnh. Mặc dù thuốc giúp giảm mất nước và chất điện giả nhưng vẫn cần dùng phối hợp với các biện pháp bù dịch bằng đường uống.
+ Kháng sinh: Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo chỉ dùng kháng sinh trong những trường hợp tiêu phân máu hoặc lỵ hoặc nghi ngờ tả với mất nước nặng. Các kháng sinh được chọn lựa thường là các loại ít hấp thu qua đường tiêu hoá mà có tác dụng tại chỗ. Thật ra, tiêu chảy cấp đa phần có nguyên nhân là do virus nên việc dùng kháng sinh không hề có hiệu quả, đó là chưa kể đến việc dùng không đúng chỉ định sẽ dẫn đến đề kháng kháng sinh. Vì thế, chỉ nên dùng khi được các bác sĩ kê đơn.
Mỗi thuốc nói trên đều có ưu và nhược điểm riêng, mà chỉ có cán bộ y tế mới nắm vững. Vì thế không nên tự ý dùng thuốc khi chưa tham khảo ý kiến của những người chuyên môn. Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo, trong tiêu chảy cấp, bù nước bằng dung dịch ORS luôn là lựa chọn hàng đầu.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 338, 15 - 8 - 2007, tr 13.








