Thuốc gây tê, mê: con dao hai lưỡi
Thuốc gây tê: là thuốc có tác dụng ức chế cảm giác đau đớn tạm thời tại nơi thuốc tiếp xúc. Người bệnh vẫn ý thức được các hoạt động của cơ thể.Thuốc gây tê được chia làm ba loại:
-Gây tê bề mặt (như tetracain,ethyl clorid) dùng để bôi, đặt trên da - niêm mạc, nhỏ mắt
- Gây tê tiêm (như lidocain,bupivacain) khi tiêm sẽ xuyên thấm qua da - niêm mạc (trong nhổ răng)
- Gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống. Hiện nay mổ lấy thai chỉ cần gây tê tủy sống. Một số thuốc gây tê thường sử dụng là lidocain, bupivacain, procain...,trong đó lidocain được dùng rộng rãi nhất. Do thời gian tác dụng gây tê quá ngắn, thuốc thường được thêm chất co mạch adrenalin để kéo dài tác dụng. Tuy nhiên việc sử dụng phối hợp này cần thận trọng vì nếu dùng quá liều có thể gây thiếu máu cục bộ.
Tác dụng phụ của thuốc gây tê thường là hạ huyết áp, nhịp tim chậm, tác dụng đến thần kinh như gây vật vã, suy hô hấp và co giật. Đặc biệt, thuốc có thể gây dị ứng mà trầm trọng nhất là gây sốc phản vệ. Trước khi quyết định liều sử dụng bác sĩ điều trị sẽ phải dựa trên tuổi, cân nặng của bệnh nhân, đặc điểm lâm sàng, mức độ vùng mạch máu ở nơi thuốc tiếp xúc và thời gian dùng thuốc. Nếu dùng đường tiêm, phải theo dõi tác dụng và phản ứng của thuốc trong 30 phút đầu sau khi tiêm và cần có thuốc cấp cứu để xử lý khi bị tai biến.
Thuốc gây mê:là thuốc có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương để làm mất hoàn toàn ý thức, phản xạ và mọi cảm giác toàn thân. Tức là, khi được gây mê người bệnh sẽ bất động, hoàn toàn không hay biết về cuộc phẫu thuật có khi rất nghiêm trọng đang diễn ra. Thuốc gây mê được chia làm hai loại:
- Thuốc gây mê dạng hít:là các thuốc gây mê bay hơi hay ở thể khí được dùng qua đường hô hấp để duy trì tình trạng mất ý thức sau khi khởi mê bằng thuốc gây mê tĩnh mạch. Có các thuốc: ether mê, halothan, dinitrogen oxid (N 2O)… Để tránh giảm oxy huyết, các bác sĩ phải dùng thuốc gây mê dạng hít phối hợp với một nồng độ oxy thích hợp.
- Thuốcgây mê tĩnh mạch:là các thuốc dùng đường tiêm tĩnh mạch chủ yếu để khởi mê nhanh và sau đó được duy trì bằng thuốc gây mê dạng hít thích hợp hoặc được tiêm truyền gián đoạn hay liên tục. Người ta cũng dùng thuốc gây mê loại này đơn thuần để gây ngủ nhẹ trong các phẫu thuật ngắn, đặc biệt được tiến hành với sự hỗ trợ của thuốc gây tê. Có các thuốc: thiopental, ketamin, etomidat, propanidid…
Tác dụng phụ của thuốc
Mặc dù khoa học đã tiến bộ, song cho tới nay vẫn chưa có loại thuốc gây mê lý tưởng có các đặc điểm: tác dụng nhanh, êm dịu, khoảng cách an toàn rộng (giữa liều điều trị và liều độc), không có tác dụng phụ ở liều điều trị. Điều đó có nghĩa là các thuốc gây mê được dùng hiện nay đều độc và có thể gây tác dụng phụ. Hầu hết có thể gây suy hô hấp, giảm huyết áp, suy chức năng tuần hoàn não. Một số thuốc có thể gây suy gan, suy thận. Hiện nay để dạt yêu cầu cho quá trình gây mê, người ta không sử dụng một loại thuốc gây mê đơn độc mà phối hợp nhiều thuốc có tác dụng khác nhau để tạo trạng thái mê cân đối. Có nghĩa là bên cạnh thuốc gây mê, người ta dùng thêm thuốc tiền mê là thuốc an thần, thuốc chống co thắt, thuốc giãn cơ, thuốc giảm đau...
Việc sử dụng thuốc gây luôn có nguy cơ bị tai biến cho nên phải sẵn có và đầy đủ các phương tiện hồi sức cấp cứu đối phó với trường hợp sốc thuốc và cả các tai biến khác xảy ra trong cuộc giải phẫu. Lưu y rằng, sốc có thể do thuốc gây tê, mê nhưng cũng có thể do phản xạ thần kinh khi tiến hành phẫu thuật ở các vùng nhạy cảm như hầu họng, cổ, hậu môn v.v... Điều đặc biệt cần lưu ý là việc gây mê chỉ an toàn khi được thực hiện bởi bác sĩ được đào tạo một cách bài bản chuyên khoa gây mê - hồi sức.
Nguồn: T/c Khoa học phổ thông, số 8/2008, tr 10








