Thực trạng gây sốc ở các con sông Việt Nam
Bài 1: Nguy cơ thảm họa
“Nếu không giải quyết những thách thức về ô nhiễm từ khu công nghiệp, thảm họa môi trường sẽ xảy ra, phá hỏng thành tựu công nghiệp trong những năm qua”, Bộ trưởng Bộ TN-MT Phạm Khôi Nguyên nhận định tại buổi công bố Báo cáo môi trường quốc gia 2009, ngày 1/6, tại Hà Nội.
Theo báo cáo trên, tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 43%. Rất nhiều KCN đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này. Nhiều KCN đã có hệ thống nhưng tỷ lệ đầu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp.
Hàng loạt sông ô nhiễm
Cũng theo bản báo cáo trên, nhiều DN xây dựng hệ thống xử lý nhưng chỉ làm cho có mà không vận hành hoặc vận hành chỉ để “che mắt” cơ quan quản lý. Sự “vô tư” xả thải từ các KCN khiến các lưu vực sông ở đây “chết” dần.
Điển hình là lưu vực sông Đồng Nai - Thị Vải chất lượng nước mặt của nguồn tiếp nhận đã diễn biến theo chiều hướng xấu đi. Hàm lượng COD tại các điểm quan trắc trên sông Thị Vải đều không đạt QCVN 08.2008.
Các kênh Bàu Lăng, Quảng Ngãi do tiếp nhận nước thải từ KCN Quảng Phú từ nhiều năm nay trở thành kênh nước thải, bị ô nhiễm nghiêm trọng. Sông Hoài (Quảng Nam) và một số con suối khác trong khu vực đã biến thành màu đen do tiếp nhận nước thải của KCN Điện Nam - Điện Ngọc.
Lưu vực sông Cầu (đoạn qua TP Thái Nguyên - đặc biệt là tại điểm thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, khu gang thép Thái Nguyên) chất lượng nước nhiều chỉ tiêu không đạt giới hạn B. Lưu vực sông Nhuệ - Đáy cũng không kém, nước thải từ các KCN Phố Nối A cùng với hàng chục KCN khác đã biến nước lưu vực sông này có những điểm không đạt tiêu chuẩn B 1 - tức là không thể tưới tiêu cho nông nghiệp.
Tại khu vực này nguồn nước ngầm cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng, không thể khai thác khiến gần 60.000 dân của thị xã Phủ Lý luôn trong tình trạng thiếu nước.
Làm bệnh tật gia tăng
Chưa nói đến những hệ lụy lâu dài, điều "nhãn tiền" từ việc ô nhiễm đã khiến cho các bệnh liên quan đến môi trường gia tăng đáng kể. Theo con số thống kê từ năm 1976 đến năm 1990 nước ta chỉ có 5.497 trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp. Năm 2004 con số này tăng lên gấp 3 lần, và dự báo năm 2010 có khoảng trên 30.000.
Báo cáo nêu rõ, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe người dân sống khu vực lân cận các nhà máy. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng tại khu chế biến kim loại màu Thái Nguyên, các xét nghiệm máu của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sống liên tục ở khu vực nghiên cứu từ 5 năm trở lên cho thấy có hàm lượng chì và arsen trong máu cao hơn vùng đối chứng từ 3-80 lần.
Tại Đà Nẵng, có 6 KCN đi vào hoạt động nhưng không có nhà máy nước thải tập trung nên nước khu vực này bị ô nhiễm trầm trọng. Người dân sống gần KCN Hòa Khánh đa số bị các bệnh lở loét chân tay và một số bệnh về da liễu.
Tại KCN Thượng Đình (Hà Nội) tỷ lệ người lớn mắc triệu chứng hô hấp cao gấp 4,9 - 5,5 lần, tỷ lệ dân cư mắc rối loạn thông khí phổi cao nhất, gấp 17,7 - 30,8 lần (trong đó có đến 57,1 - 64,7% là rối loạn thông khí tắc nghẽn).
Tỷ lệ mắc các triệu chứng như kích thích mắt, mũi, da, rối loạn thần kinh thực vật... cao hơn 9 lần so với vùng đối chứng là xã Định Công, Thanh Trì, Hà Nội.
Còn vô vàn những con số đáng để giật mình, song đây chắc chắn chưa phải là tất cả vì theo GS Trần Hiếu Nhuệ, một chuyên gia hàng đầu về môi trường “rất khó để kiểm tra các cơ sở trong các KCN vì họ không cho vào kiểm tra là “chịu”.
Tính đến tháng 10/2009, toàn quốc đã có 223 KCN được thành lập, trong đó 171 KCN đã đi vào hoạt động, với tổng diện tích gần 57.300ha. Báo cáo môi trường quốc gia 2009 nhận định, giá trị sản xuất của các khu công nghiệp này mới đạt hơn 33 tỷ USD (chiếm 38% GDP cả nước - năm 2008), và các KCN ngày càng bộc lộ khiếm khuyết khi đang tàn phá môi trường các con sông. |








