Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 20/07/2010 23:34 (GMT+7)

Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại Việt Nam

Riêng về chất thải rắn, ước tính mỗi năm có hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau ở Việt Nam . Khoảng hơn 80% số này (tương đương 12,8 triệu tấn/năm) là chất thải phát sinh từ các hộ gia đình, các nhà hàng, khu chợ và khu kinh doanh. Tổng lượng chất thải phát sinh từ các cơ sở công nghiệp mỗi năm khoảng 2,6 triệu tấn (chiếm 17%). Các chất thải nguy hại (trong đó bao gồm cả chất thải y tế nguy hại, các chất dễ cháy và chất độc hại phát sinh từ các quá trình sản xuất công nghiệp, và các loại thuốc trừ sâu, thùng chứa thuốc trừ sâu phục vụ các hoạt động nông nghiệp) chiếm 1% trong tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam. Mặc dù phát sinh với khối lượng ít, song nếu không được quản lý tốt thì với các tính chất độc hại, chất thải nguy hại sẽ là mối hiểm hoạ lớn đối với sức khoẻ người dân và môi trường.

Các khu đô thị tuy dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước, nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước). Chất thải ở các vùng đô thị thường có tỷ lệ các thành phần nguy hại lớn hơn như các loại pin, các loại dung môi sử dụng trong gia đình và các loại chất thải không phân hủy như nhựa, kim loại và thủy tinh. Ngược lại, lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn chỉ bằng một nửa mức phát sinh chất thải của dân đô thị (0,3 kg/người/ngày so với 0,7 kg/người/ngày) và phần lớn đều là chất thải hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm 99% trong phế thải nông nghiệp và 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn, trong khi chỉ chiếm cỡ 50% trong chất thải sinh hoạt ở các khu đô thị).

Chất thải công nghiệp chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp đô thị phát triển: Khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam . 50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận và 30% phát sinh ở các vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Thêm vào đó, gần 1.500 làng nghề mà chủ yếu là tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc, mỗi năm phát sinh khoảng 774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại.

Chất thải nguy hại là mối hiểm hoạ ngày càng lớn. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp (130.000 tấn/năm) và các bệnh viện (21.000 tấn/năm). Ngoài ra, nông nghiệp cũng là nguồn phát sinh chất thải nguy hại, mỗi năm phát sinh khoảng 8.600 tấn các loại thuốc trừ sâu, bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu và khoảng 37.000 tấn hoá chất tồn lưu bao gồm các loại hóa chất nông nghiệp bị thu giữ và thuốc trừ sâu quá hạn sử dụng. Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở các vùng khác nhau khác biệt rõ rệt, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động công nghiệp. Lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước. 27% tổng lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa. Trong khi đó, chất thải nguy hại từ nông nghiệp chủ yếu phát sinh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Xử lý chất thải, bao gồm các hoạt động tái sử dụng, tái chế, thu gom, xử lý và tiêu hủy, là khâu rất quan trọng có tính quyết định đối với việc tạo lập được một hệ thống quản lý chất thải hiệu quả để có thể giảm thiểu các rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ người dân. Phần lớn chất thải sinh hoạt ở Việt Nam không được tiêu huỷ một cách an toàn. Tuy nhiên, hoạt động của các công ty môi trường đô thị (URENCO), là cơ quan được giao trách nhiệm thực hiện thu gom và tiêu hủy chất thải sinh hoạt, đã có những cải tổ đáng kể. Xử lý một cách hợp lý chất thải nguy hại được quy định là trách nhiệm của các cơ sở y tế và công nghiệp. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện vẫn còn hạn chế. Tái chế và tái sử dụng chất thải là một ngành công nghiệp năng động ở Việt Nam, với một mạng lưới gồm những người nhặt rác ở các bãi chôn lấp, các cơ sở thu gom và thu mua chất thải thuộc khu vực tư nhân.

Hoạt động thu gom chất thải rắn ở các thành phố đang được thực hiện, nhưng ở các vùng nông thôn vẫn còn rất hạn chế. Nhìn chung, các thành phố lớn có tỷ lệ thu gom chất thải ở mức cao hơn (76%) so với các thành phố nhỏ (70%), trong khi ở các vùng nông thôn tỷ lệ thu gom nhìn chung thấp hơn 20%. Một tỷ lệ lớn người nghèo không được hưởng các dịch vụ thu gom chất thải rắn. Hiện đang có nhiều sáng kiến mới nhằm cải thiện tình trạng thiếu các dịch vụ thu gom chất thải đô thị. Ví dụ: các chương trình thu gom chất thải dựa vào cộng đồng hoặc do khu vực tư nhân đảm nhiệm.

Các phương thức tiêu hủy chất thải sinh hoạt đang được cải tiến, nhưng vẫn còn là mối hiểm họa đối với sức khoẻ và môi trường. Hình thức tiêu hủy chất thải phổ biến vẫn là đổ thải ở các bãi rác lộ thiên và trong số này có 49 bãi rác bị xếp vào số các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất, có khả năng cao gây ra những rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ con người. Trong số 91 điểm tiêu hủy chất thải trong cả nước, chỉ có 17 điểm là các bãi chôn lấp hợp vệ sinh mà phần lớn đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Ở nhiều vùng, việc áp dụng các phương pháp tự tiêu hủy chất thải như đốt, hoặc chôn chất thải, đổ bỏ ra các con sông, kênh, rạch và các khu đất trống khá phổ biến. Các bãi chôn lấp được vận hành không đúng kỹ thuật và các bãi rác lộ thiên gây ra nhiều vấn đề môi trường cho dân cư quanh vùng như rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm, các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi, ruồi, muỗi, chuột, bọ, ô nhiễm bụi và tiếng ồn và làm tăng tỷ lệ người bị mắc các bệnh về gan, tiêu hóa và hô hấp.

Các hệ thống xử lý chất thải công nghiệp nguy hại còn chưa đầy đủ: Thiếu các cơ sở xử lý tập trung và các cơ chế khuyến khích để thúc đẩy thực hiện các biện pháp tiêu hủy an toàn.

Năng lực xử lý chất thải y tế nguy hại đang được tăng cường, nhưng bị hạn chế do việc vận hành không đúng kỹ thuật.

Xử lý các hoá chất nông nghiệp tồn lưu: Gần một nửa lượng chất thải là các hoá chất dùng trong nông nghiệp tồn lưu ở các kho chứa đã được xử lý trong năm 2002 bằng cách thiêu đốt hoặc là bằng các kỹ thuật hóa học.

Tái chế chất thải là phương thức xử lý khá phổ biến ở Việt Nam: Các hộ gia đình thường có thói quen chọn các loại chất thải có khả năng tái chế được như kim loại và giấy để bán cho những người thu mua đồng nát (ve chai) hoặc là bán thẳng cho các cơ sở thu mua trong vùng. Các loại chất thải có khả năng tái sử dụng và tái chế còn được phân loại và sau đó đem bán cho các cơ sở tái chế. Thị trường tái chế ở Việt Nam khá sôi động mà phần lớn là do khu vực tư nhân kiểm soát. Ví dụ, ở Hà Nội thị trường này cho phép thực hiện tái chế với khoảng 22% lượng chất thải phát sinh. Trong lĩnh vực công nghiệp, một số ngành công nghiệp có khả năng thực hiện tái chế được đối với 80% lượng chất thải của ngành. Những người thợ thủ công mỹ nghệ và công nhân làm việc trong các làng nghề đã rất thành công trong việc tái chế và tái sử dụng trên 90% chất thải rắn có khả năng tái chế được của cơ sở mình.

Thị trường các chất thải tái chế được rất có tiềm năng mở rộng: Ở Việt Nam, khoảng 32% tổng lượng chất thải sinh hoạt đô thị (tương đương với 2,1 triệu tấn/năm) hiện đang được đem tiêu hủy lại là các chất thải có khả năng tái chế được như giấy, nhựa, kim loại và thủy tinh. Nếu tiến hành tái chế lượng chất thải này thì sẽ có khả năng giảm một cách đáng kể chi phí tiêu hủy chất thải và tạo cơ hội giúp khu vực tư nhân và rất nhiều người nghèo có thêm nguồn thu từ việc bán các vật liệu tái chế. Chỉ riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, ước tính, doanh số thu được từ hoạt động tái chế mỗi năm có thể lên đến gần 135 tỷ đồng.

Tỷ lệ chất hữu cơ (trong chất thải sinh hoạt) cao là yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện chế biến chất thải thành phân compost mà nhờ đó có thể giảm thiểu được chi phí tiêu hủy nếu như sản xuất được các loại phân bón phù hợp với các điều kiện thị trường, ví dụ để sử dụng trong nông nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó bao gồm cả vấn đề chất lượng nguyên liệu đầu vào cho chế biến phân còn kém và các hoạt động tiếp thị chưa được thực hiện tốt. Hiệu quả của việc triển khai các cơ sở chế biến phân compost tập trung sẽ tăng lên đáng kể nếu chúng ta thúc đẩy phát triển thị trường phân compost và thực hiện thành công việc phân loại chất thải tại nguồn./.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.
Nghệ An: Trao 162 giải thưởng Olympic Hóa học 19-5
Cuộc thi đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ về sự hấp dẫn của Hóa học và lan tỏa tình yêu của Hóa học đương đại đến mọi người. Thành công của cuộc thi là lời khẳng định về vai trò của Hóa học trong đời sống và tương lai của đất nước.
Xây dựng hành lang pháp lý phát triển đô thị Việt Nam
Chuyển mạnh từ tư duy quản lý đô thị sang kiến tạo phát triển đô thị là một trong những nội dung được nhiều chuyên gia góp ý tại Hội thảo “Đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật Phát triển đô thị” do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp cùng Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam và Tổng Hội Xây dựng Việt Nam tổ chức sáng 5/8, tại Hà Nội.
Gia Lai: Liên hiệp các Hội tổ chức tập huấn kỹ năng truyền thông
Ngày 4/8, Liên hiệp các Hội KH&KT Gia Lai (Liên hiệp Hội) đã tổ chức lớp tập huấn “Kỹ năng xây dựng tin, bài trong bối cảnh truyền thông hiện nay” với sự tham dự của ông Lê Anh Tuân – Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội, Nhà báo Lương Văn Danh – Phó Giám đốc Báo và Phát thanh – Truyền hình Gia Lai, báo cáo viên của lớp tập huấn; cùng khoảng 50 học viên đến từ các đơn vị thành viên Liên hiệp Hội.
Liên hiệp Hội Việt Nam làm việc với Quỹ VinFuture
Chiều ngày 03/8, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đại diện Liên hiệp Hội Việt Nam đã có buổi gặp mặt, làm việc với đại diện Quỹ VinFuture (Tập đoàn Vingroup) nhằm trao đổi, thảo luận sâu về tiềm năng và cơ hợp tác giữa hai đơn vị.
Cần bãi bỏ các thủ tục chồng chéo trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường
Đây là ý kiến của nhiều đại biểu tham dự hội thảo “Góp ý kiến Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường” vừa diễn ra sáng nay 4/8 tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.