Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại Việt Nam
Riêng về chất thải rắn, ước tính mỗi năm có hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau ở Việt Nam . Khoảng hơn 80% số này (tương đương 12,8 triệu tấn/năm) là chất thải phát sinh từ các hộ gia đình, các nhà hàng, khu chợ và khu kinh doanh. Tổng lượng chất thải phát sinh từ các cơ sở công nghiệp mỗi năm khoảng 2,6 triệu tấn (chiếm 17%). Các chất thải nguy hại (trong đó bao gồm cả chất thải y tế nguy hại, các chất dễ cháy và chất độc hại phát sinh từ các quá trình sản xuất công nghiệp, và các loại thuốc trừ sâu, thùng chứa thuốc trừ sâu phục vụ các hoạt động nông nghiệp) chiếm 1% trong tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam. Mặc dù phát sinh với khối lượng ít, song nếu không được quản lý tốt thì với các tính chất độc hại, chất thải nguy hại sẽ là mối hiểm hoạ lớn đối với sức khoẻ người dân và môi trường.
Các khu đô thị tuy dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước, nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước). Chất thải ở các vùng đô thị thường có tỷ lệ các thành phần nguy hại lớn hơn như các loại pin, các loại dung môi sử dụng trong gia đình và các loại chất thải không phân hủy như nhựa, kim loại và thủy tinh. Ngược lại, lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn chỉ bằng một nửa mức phát sinh chất thải của dân đô thị (0,3 kg/người/ngày so với 0,7 kg/người/ngày) và phần lớn đều là chất thải hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm 99% trong phế thải nông nghiệp và 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn, trong khi chỉ chiếm cỡ 50% trong chất thải sinh hoạt ở các khu đô thị).
Chất thải công nghiệp chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp đô thị phát triển: Khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam . 50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận và 30% phát sinh ở các vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Thêm vào đó, gần 1.500 làng nghề mà chủ yếu là tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc, mỗi năm phát sinh khoảng 774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại.
Chất thải nguy hại là mối hiểm hoạ ngày càng lớn. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp (130.000 tấn/năm) và các bệnh viện (21.000 tấn/năm). Ngoài ra, nông nghiệp cũng là nguồn phát sinh chất thải nguy hại, mỗi năm phát sinh khoảng 8.600 tấn các loại thuốc trừ sâu, bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu và khoảng 37.000 tấn hoá chất tồn lưu bao gồm các loại hóa chất nông nghiệp bị thu giữ và thuốc trừ sâu quá hạn sử dụng. Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở các vùng khác nhau khác biệt rõ rệt, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động công nghiệp. Lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước. 27% tổng lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa. Trong khi đó, chất thải nguy hại từ nông nghiệp chủ yếu phát sinh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Xử lý chất thải, bao gồm các hoạt động tái sử dụng, tái chế, thu gom, xử lý và tiêu hủy, là khâu rất quan trọng có tính quyết định đối với việc tạo lập được một hệ thống quản lý chất thải hiệu quả để có thể giảm thiểu các rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ người dân. Phần lớn chất thải sinh hoạt ở Việt Nam không được tiêu huỷ một cách an toàn. Tuy nhiên, hoạt động của các công ty môi trường đô thị (URENCO), là cơ quan được giao trách nhiệm thực hiện thu gom và tiêu hủy chất thải sinh hoạt, đã có những cải tổ đáng kể. Xử lý một cách hợp lý chất thải nguy hại được quy định là trách nhiệm của các cơ sở y tế và công nghiệp. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện vẫn còn hạn chế. Tái chế và tái sử dụng chất thải là một ngành công nghiệp năng động ở Việt Nam, với một mạng lưới gồm những người nhặt rác ở các bãi chôn lấp, các cơ sở thu gom và thu mua chất thải thuộc khu vực tư nhân.
Hoạt động thu gom chất thải rắn ở các thành phố đang được thực hiện, nhưng ở các vùng nông thôn vẫn còn rất hạn chế. Nhìn chung, các thành phố lớn có tỷ lệ thu gom chất thải ở mức cao hơn (76%) so với các thành phố nhỏ (70%), trong khi ở các vùng nông thôn tỷ lệ thu gom nhìn chung thấp hơn 20%. Một tỷ lệ lớn người nghèo không được hưởng các dịch vụ thu gom chất thải rắn. Hiện đang có nhiều sáng kiến mới nhằm cải thiện tình trạng thiếu các dịch vụ thu gom chất thải đô thị. Ví dụ: các chương trình thu gom chất thải dựa vào cộng đồng hoặc do khu vực tư nhân đảm nhiệm.
Các phương thức tiêu hủy chất thải sinh hoạt đang được cải tiến, nhưng vẫn còn là mối hiểm họa đối với sức khoẻ và môi trường. Hình thức tiêu hủy chất thải phổ biến vẫn là đổ thải ở các bãi rác lộ thiên và trong số này có 49 bãi rác bị xếp vào số các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất, có khả năng cao gây ra những rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ con người. Trong số 91 điểm tiêu hủy chất thải trong cả nước, chỉ có 17 điểm là các bãi chôn lấp hợp vệ sinh mà phần lớn đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Ở nhiều vùng, việc áp dụng các phương pháp tự tiêu hủy chất thải như đốt, hoặc chôn chất thải, đổ bỏ ra các con sông, kênh, rạch và các khu đất trống khá phổ biến. Các bãi chôn lấp được vận hành không đúng kỹ thuật và các bãi rác lộ thiên gây ra nhiều vấn đề môi trường cho dân cư quanh vùng như rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm, các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi, ruồi, muỗi, chuột, bọ, ô nhiễm bụi và tiếng ồn và làm tăng tỷ lệ người bị mắc các bệnh về gan, tiêu hóa và hô hấp.
Các hệ thống xử lý chất thải công nghiệp nguy hại còn chưa đầy đủ: Thiếu các cơ sở xử lý tập trung và các cơ chế khuyến khích để thúc đẩy thực hiện các biện pháp tiêu hủy an toàn.
Năng lực xử lý chất thải y tế nguy hại đang được tăng cường, nhưng bị hạn chế do việc vận hành không đúng kỹ thuật.
Xử lý các hoá chất nông nghiệp tồn lưu: Gần một nửa lượng chất thải là các hoá chất dùng trong nông nghiệp tồn lưu ở các kho chứa đã được xử lý trong năm 2002 bằng cách thiêu đốt hoặc là bằng các kỹ thuật hóa học.
Tái chế chất thải là phương thức xử lý khá phổ biến ở Việt Nam: Các hộ gia đình thường có thói quen chọn các loại chất thải có khả năng tái chế được như kim loại và giấy để bán cho những người thu mua đồng nát (ve chai) hoặc là bán thẳng cho các cơ sở thu mua trong vùng. Các loại chất thải có khả năng tái sử dụng và tái chế còn được phân loại và sau đó đem bán cho các cơ sở tái chế. Thị trường tái chế ở Việt Nam khá sôi động mà phần lớn là do khu vực tư nhân kiểm soát. Ví dụ, ở Hà Nội thị trường này cho phép thực hiện tái chế với khoảng 22% lượng chất thải phát sinh. Trong lĩnh vực công nghiệp, một số ngành công nghiệp có khả năng thực hiện tái chế được đối với 80% lượng chất thải của ngành. Những người thợ thủ công mỹ nghệ và công nhân làm việc trong các làng nghề đã rất thành công trong việc tái chế và tái sử dụng trên 90% chất thải rắn có khả năng tái chế được của cơ sở mình.
Thị trường các chất thải tái chế được rất có tiềm năng mở rộng: Ở Việt Nam, khoảng 32% tổng lượng chất thải sinh hoạt đô thị (tương đương với 2,1 triệu tấn/năm) hiện đang được đem tiêu hủy lại là các chất thải có khả năng tái chế được như giấy, nhựa, kim loại và thủy tinh. Nếu tiến hành tái chế lượng chất thải này thì sẽ có khả năng giảm một cách đáng kể chi phí tiêu hủy chất thải và tạo cơ hội giúp khu vực tư nhân và rất nhiều người nghèo có thêm nguồn thu từ việc bán các vật liệu tái chế. Chỉ riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, ước tính, doanh số thu được từ hoạt động tái chế mỗi năm có thể lên đến gần 135 tỷ đồng.
Tỷ lệ chất hữu cơ (trong chất thải sinh hoạt) cao là yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện chế biến chất thải thành phân compost mà nhờ đó có thể giảm thiểu được chi phí tiêu hủy nếu như sản xuất được các loại phân bón phù hợp với các điều kiện thị trường, ví dụ để sử dụng trong nông nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó bao gồm cả vấn đề chất lượng nguyên liệu đầu vào cho chế biến phân còn kém và các hoạt động tiếp thị chưa được thực hiện tốt. Hiệu quả của việc triển khai các cơ sở chế biến phân compost tập trung sẽ tăng lên đáng kể nếu chúng ta thúc đẩy phát triển thị trường phân compost và thực hiện thành công việc phân loại chất thải tại nguồn./.








