Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 17/03/2008 15:10 (GMT+7)

Thử tìm nguyên nhân và giải pháp chấn hưng nền giáo dục Việt Nam

Nguyên nhân yếu kém

Ngành GD & ĐT chậm đổi mới, chưa theo kịp đổi mới kinh tế - xã hội

Nguyên nhân thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao là do công tác đào tạo chậm đổi mới. Do thiếu quy hoạch hệ thống đào tạo nghề nên việc tăng /giảm ngành nghề đào tạo còn nặng tính tự phát, chủ quan hoặc duy ý chí. Cơ cấu đào tạo nghề mất cân đối, không bắt kịp nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các “sản phẩm” của GD & ĐT khi đi vào cuộc sống thiếu kỹ năng, yếu về trình độ chuyên môn.

Trong Hội thảo: Thực trạng và giải pháp về nguồn nhân lực cao cấp cho doanh nghiệp (tổ chức tại Tp Hồ Chí Minh, tháng 10.2006), nhiều ý kiến đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến yếu kém của nguồn nhân lực được đào tạo ở Việt Nam . ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Công nghiệp và thương mại Việt Nam (VCCI), nhìn nhận: “Chúng ta hiểu rất rõ chất lượng nguồn nhân lực đang và sẽ là thách thức căn bản, dài hạn và gay gắt nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Trong khi đó, hệ thống GD & ĐT vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho quá trình chuyển đổi này”. ông Đoàn Văn Kiển, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam lý giải: “Giáo trình đại học tuy in mới nhưng nội dung cũ mấy chục năm, lạc hậu rất nhiều so với thực tế, không cập nhật được thông tin, công nghệ mới. Thế nhưng, nếu doanh nghiệp chủ động cử người đi đào tạo ở nước ngoài với chi phí cao thì lại gặp khó khăn từ cơ quan quản lý nhà nước”.

Theo các chuyên gia kinh tế và các nhà xã hội học, sự thiếu hụt lao động chất xám ở nước ta do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân đầu tiên là do tình hình kinh tế - xã hội nước ta phát triển nhanh, nhất là từ sau đổi mới, trong khi đó hệ thống GD & ĐT lại đổi mới quá chậm. Nền kinh tế đất nước đã vận hành theo quy luật cung - cầu, cạnh tranh trong một sân chơi chung với những luật chơi bắt buộc. Thế nhưng, hệ thống GD & ĐT vẫn còn theo lối chủ quan, duy ý chí, lạc hậu, không theo sát, theo kịp với thực tiễn.

Chương trình học “ôm đồm”, không dành quyền lựa chọn cho người học

Thời gian học đại học 4 năm ở Việt Nam là 2.183 giờ (ở Mỹ là 1.380 giờ). Ngoài ra, có thể nhận thấy, chương trình đào tạo đại học ở Việt Nam không hẳn là nghề, cũng không hẳn là đào tạo để có kiến thức sâu và tính sáng tạo. Ví dụ, Chương trình đào tạo đại học kinh tế ở Việt Nam (Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh) đòi hỏi 1.451 giờ học kinh tế (ở Mỹ chỉ 480 giờ). Sinh viên Việt Nam trong 4 năm phải học gần như tất cả mọi thứ về kinh tế mà nhà trường có thể nghĩ ra, nên không có khả năng hoặc thời gian đi sâu vào bất cứ vấn đề gì. Sự phân chia chi li các lớp học (chuyên ngành) thì lại có vẻ thực dụng như dạy nghề.

Chương trình đại học ở Việt Nam không trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản và toàn diện về khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, văn chương, nghệ thuật, không trang bị phương pháp nghiên cứu và viết luận văn. Ngoài ra, ở bậc đại học của Việt Nam , tất cả các môn có tính bắt buộc, sinh viên không có quyền tự chọn (ở Mỹ có quyền tự chọn đến 1/3 thời gian học, dù học bất cứ ngành nào). Việc được quyền tự chọn là rất quan trọng để sinh viên mở mang kiến thức về nhiều ngành học khác nhau, giúp hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn nhận vấn đề không bị bó hẹp vào chuyên môn của mình.

Chương trình GD &ĐT thiếu sáng tạo, nhiều khi còn đồng nhất giáo dục với tuyên truyền

Đã qua nhiều lần hô hào cải cách, nhưng nội dung lẫn phương pháp đào tạo của Việt Nam vẫn còn quá nhiều điều bất cập, không phát huy được tính độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học. Trong quá khứ, thời kháng chiến nói giáo dục tuyên truyền để huy động đông đảo nhân dân tham gia cách mạng là tối cần thiết. Đến nay, trong giai đoạn hội nhập, nếu tiếp tục có tư duy lẫn lộn giữa giáo dục và tuyên truyền thì sớm muộn sẽ đi đến ngõ cụt của tri thức, đến tụt hậu của tư duy. Bởi vì, tuyên truyền mang tính tình thế, hướng đối tượng đi theo ý muốn của mình; còn giáo dục đúng nghĩa, cần mang tính nhân văn, lâu dài và phổ quát, lấy con người làm gốc, tạo điều kiện để đối tượng có hiểu biết, giúp họ hành sự như một thực thể độc lập, đủ khả năng thích ứng với sự thay đổi của bối cảnh, cuộc sống, sự việc. Đây là một phẩm chất quan trọng bậc nhất của nguồn nhân lực trong cuộc cạnh tranh trong xu thế hội nhập.

Giáo dục luôn đòi hỏi phát huy khả năng trao đổi, thảo luận, tinh thần phê phán phản biện. Như vậy, người học mới có óc sáng tạo, tự mình phát hiện cái mới, cái hay rồi hành xử theo điều kiện cụ thể. Không độc lập trong suy nghĩ thì không thể cải tiến công việc, cải tạo cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững. Có một ví dụ đáng quan tâm về nhược điểm thiếu tinh thần tự lập, sáng tạo của nhân lực được đào tạo của Việt Nam: Có lần, một Công ty phần mềm tính toán thiết kế cơ học hàng không ở Bỉ chuẩn bị mở một chi nhánh tại Việt Nam . Công ty đã thuê phòng ốc tại Tp Hồ Chí Minh. Đến giai đoạn gửi cộng tác viên sang Bỉ thực tập, sau khi thẩm tra, họ quyết định ngừng dự án mở chi nhánh. Một trong những lý do là vì các sinh viên Việt Nam không có tinh thần tự lập, sáng tạo; học thì giỏi, nhưng trước nghịch cảnh lại không có tư duy sáng tạo, điều tiết công việc. Người Bỉ trong đợt kiểm tra đó đã cố ý đưa ra những bài toán mà đầu đề có chỗ sai. Sinh viên Bỉ sửa cái sai đó, trong khi sinh viên Việt Nam vẫn giữ cái sai đó và dĩ nhiên là giải sai. Đó chính là sự khác biệt.

Về giáo trình, các trường vẫn cứng nhắc tuân theo giáo trình khung của Bộ GD &ĐT. Đối với một ngành chuyên môn kỹ thuật sâu như công nghệ thông tin, nội dung chính trị - xã hội vẫn chiếm tới gần 30% đơn vị học trình đào tạo. Vì vậy các trường đại học có rất ít khoảng trống để bắt kịp sự thay đổi công nghệ. Theo báo cáo Công nghệ thông tin - Truyền thông toàn cầu năm 2005 của Diễn đàn kinh tế thế giới, chất lượng chương trình đào tạo công nghệ thông tin của Việt Nam đứng thứ 9 trong khu vực ASEAN +3 và đứng thứ 76 trong số 82 quốc gia do tổ chức này khảo sát.

Hệ thống đào tạo chạy theo bằng cấp, hư danh

Tư duy giáo dục hiện nay còn chạy theo thành tích, hư danh, theo số lượng mà không quan tâm đúng mức đến chất lượng. Chính tư duy có “tính phong trào“ này đã dẫn đến tâm lý sính đại học, coi thường cao đẳng, sính bằng cấp. Việc đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ thì tràn lan, có danh nhưng không có thực, không theo quan điểm truyền thống của dân tộc Việt là: Nhất nghệ tinh nhất thân vinh. Trong đánh giá, đâu đâu cũng thấy xuất sắc, tiên tiến.

Căn bệnh trầm kha trên đây đã dẫn đến những kết cục bi hài: Cho ra đời những sản phẩm “dở thầy dở thợ”, có bằng cấp nhưng không có kiến thức thực sự. Vô số sinh viên ra trường nhưng không tìm được việc làm, do không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, họ đành phải làm những việc trái với chuyên môn, ngành nghề đào tạo nên không thể nào đạt hiệu quả cao trong công việc. Hàng năm, có thêm rất nhiều cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ, nhưng trong thực tế, họ không được xem là nguồn nhân lực cao cấp, là lao động chất xám, bởi họ không có những kiến thức tương xứng với những văn bằng đã được cấp. Theo nghiên cứu của một tổ chức quốc tế thì Việt Nam thuộc nước đứng đầu trong khu vực về tỷ lệ giáo sư, tiến sỹ... nhưng lại đứng thấp nhất về trình độ ngoại ngữ, khoa học và công nghệ.

Chính sách đãi ngộ, sử dụng của Nhà nước chưa thỏa đáng

Một sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường, vào làm việc trong một cơ quan nhà nước, với mức lương khởi điểm chỉ khoảng 1 triệu đồng thì thật là khó chấp nhận. Do đó, hiện tượng chảy máu chất xám ngày càng tăng. Nhân lực được đào tạo bài bản trong nước thường tìm việc ở những công ty nước ngoài. Nhiều du học sinh Việt Nam sau khi tốt nghiệp cũng thường tìm cách ở lại nước ngoài làm việc.

Hiện nay, trong cuộc cạnh tranh thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao, lợi thế đã nghiêng về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, do chính sách lương bổng và những phúc lợi ở khu vực này thường cao hơn khu vực trong nước. Mặt khác, lao động chất xám làm việc trong các công ty nước ngoài thường được giao công việc với trách nhiệm và quyền lợi rõ ràng, được quyết định trong phạm vi tương đối rộng, qua đó có thể phát huy được tính năng động, sáng tạo trong công việc, và về mặt tâm lý, họ cảm thấy được tôn trọng nhiều hơn.

Quản lý nhà nước về phát triển nhân lực chưa thích hợp

Tổ chức bộ máy chủ yếu theo nguyên tắc quản lý ngành dọc. Tổ chức mang tính phân tán và thiếu sự liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau trên cơ sở định hướng chung, thống nhất, chỉnh thể về phát triển nhân lực cho thời kỳ dài hạn. Hầu như chưa có sự phối hợp quản lý giữa ngành và lãnh thổ, cũng như giữa các vùng lãnh thổ về đào tạo, phát triển nhân lực.

Phương pháp quản lý lạc hậu, hiệu lực thấp và kém hiệu quả. Các cơ quan chủ quản (bộ, cơ quan ngang bộ) thực hiện quản lý đối với các cơ sở đào tạo nhân lực trực thuộc chủ yếu bằng phương pháp mệnh lệnh hành chính, xơ cứng, bao biện và bao cấp (giao chỉ tiêu kế hoạch tuyển sinh cứng, cấp kinh phí trực tiếp cho cơ sở đào tạo, định mức chi phí đào tạo chậm sửa đổi...). Chưa sử dụng rộng rãi và hiệu quả các công cụ của thị trường lao động trong phát triển nhân lực, sử dụng công nghệ thông tin còn hạn chế... Còn có sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử đối với các cơ sở đào tạo nhân lực thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

Thiếu những quy định và cơ chế để phối hợp, liên kết giữa cơ quan quản lý với tổ chức đào tạo nhân lực và cơ sở sử dụng nhân lực. Từ đó, xuất hiện tình trạng phổ biến là cơ sở đào tạo nhân lực thể hiện sự độc quyền trong đào tạo; cơ sở sử dụng nhân lực không quan tâm để đào tạo. Thiếu cơ chế tạo ra sự cạnh tranh trong đào tạo nhân lực, làm cho người có nhu cầu đào tạo chịu thiệt thòi và không có tác dụng nâng cao chất lượng đào tạo. Vì vậy, công tác quản lý nhà nước chưa kiểm soát được chất lượng đào tạo và chưa thực hiện được vai trò định hướng đào tạo, liên kết giữa đào tạo và sử dụng nhân lực.

Còn tâm lý muốn duy trì những cơ chế, phương pháp quản lý cũ của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp mà chưa nắm bắt và theo kịp yêu cầu mới đối với quản lý phát triển nhân lực trong điều kiện nền kinh tế thị trường.

Hệ thống khung pháp lý về phát triển nhân lực còn thiếu và có nhiều điểm bất hợp lý, chưa phù hợp với thực tiễn đất nước và chưa tiếp cận được với hệ thống luật pháp quốc tế. Do đó, chưa thực sự là cơ sở pháp lý thuận lợi cho phát triển nhân lực trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Còn có những quy định pháp lý chưa thực sự tạo bình đẳng cho tất cả các cơ sở GD & ĐT thuộc mọi thành phần kinh tế, cơ sở công lập được ưu tiên nhiều hơn, tạo ra sự độc quyền trong quản lý và hoạt động đào tạo nhân lực.

Quản lý nhà nước về đào tạo còn nhiều bất hợp lý, chậm đổi mới. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý GD & ĐT còn nhiều hạn chế và ngại đổi mới. Giải pháp về đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp chậm được ban hành. Hệ thống công cụ kiểm tra, giám sát, kiểm định, đánh giá chất lượng và kết quả đào tạo thiếu và hoạt động kém hiệu quả; cơ chế quản lý đối với các cơ sở đào tạo lạc hậu, mang nặng tính hành chính, quan liêu bao cấp, hạn chế tính chủ động, sáng tạo của cơ sở.

Giải pháp chiến lược: Cải cách GD & ĐT theo hướng hội nhập quốc tế

Giải pháp mang tầm chiến lược để đáp ứng nhu cầu về nhân lực cả về chất lượng và số lượng cho công cuộc phát triển quốc gia là: Cải cách triệt để hệ thống GD & ĐT, từ trung ương đến cơ sở, từ tư duy, quan điểm, chương trình đào tạo đến phương pháp, phương tiện... theo hướng hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý là: Trong bối cảnh Việt Nam , GD& ĐT không thể tự mình cải cách!

Có thể nhận định: Hệ thống GD & ĐT của Việt Nam hiện tại còn chứa nhiều yếu tố không bình thường, không chuẩn, khác lạ, thể hiện ở những yếu kém chủ yếu là: Chưa lành mạnh (còn nhiều tiêu cực); chưa tiên tiến (tư duy, chương trình đào tạo); chưa hiện đại (hạ tầng cơ sở). Một khi hệ thống còn nhiều yếu tố khác thường, thì những biện pháp chống tiêu cực chỉ mang tính ngắn hạn, tình thế.

Giải pháp chiến lược đối với công cuộc cải cách giáo dục của Việt Nam phải là chuyển “Hệ thống không bình thường” hiện tại đến một “Hệ thống bình thường”, để có thể bao gồm được các tố chất: Lành mạnh, tiên tiến và hiện đại.

Nguồn: T/c Hoạt động khoa học, 2/2008, tr 27

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.