Thư ngỏ về việc bảo tồn Sắc phong SOS Sắc phong!
Sắc phong bao gồm Sắc phong chức tướccho quý tộc, quan chức của các vương triều và Sắc phong thầndo nhà Vua phong tặng và xếp hạng cho các vị thần được thờ trong các đình đền, miếu, từ đường…Loại thứ nhất không còn nhiều và thường do các gia đình dòng họ lưu giữ. Loại thứ hai tuy đã mất mát nhiều nhưng khối lượng còn lại đến nay khá lớn và thường được bảo tồn trong các kiến trúc tín ngưỡng của làng, xã. Các vị thần được phong tặng có thể là nhân vật lịch sử có công với nước, thường gọi là nhân thần và các thần linh trong tín ngưỡng dân gian như nhân vật huyền thoại, vật linh, các hiện tượng thiên nhiên...
Sắc phong là một nguồn tư liệu có giá trị về nhiều phương diện:
- Mang tên tuổi và công lao của một số nhân vật lịch sử kèm theo quê quán, công tích và xếp hạng (nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng tôn thần), biêủ thị sự tôn vinh của vương triều và cộng đồng cư dân, chứa đựng một số thông tin bổ sung thêm lịch sử. Nhân vật trên sắc phong thần có thể là những người dân bình thường có công khai hoang lập làng, truyền dạy nghề thủ công, có công đức với cộng đồng… gắn liền với lịch sử làng xã cổ truyền.
- Các sắc phong phản ánh vai trò tối thượng của Nhà Vua, không chỉ trị vì muôn dân trong thế giới trần tục mà còn cai quản cả thế giới thần linh, kết hợp với các tín ngưỡng và đời sống tâm linh (Thành hoàng, Tổ tiên, Vật linh, Tổ sư, Sùng bái thiên nhiên…) thường có quan hệ mật thiết với các lễ hội dân gian và sinh hoạt văn hoá của làng xã. Đây là một nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu các tín ngưỡng dân gian.
- Sắc phong phản ánh hệ thống hành chính với những địa danh và đơn vị hành chính mang niên đại cụ thể.
- Đó là chứng cứ về những đặc trưng của thư pháp Hán Nôm và sự biến đổi qua các thời kỳ lịch sử. Nghiên cứu và hệ thống đầy đủ có thể lập biểu tiêu chí về thư pháp Hán Nôm và những sự biến đổi đó, góp phần nghiên cứu về văn tự và nhận diện thời điểm các văn bản (Kết hợp với các tiêu chí khác).
Giấy sắc là một sản phẩm đặc biệt của nghề làm giấy truyền thống với những trang trí đặc trưng của mỗi thời kỳ lịch sử và cuả từng trung tâm sản xuất giấy sắc. Nghiên cứu và hệ thống đầy đủ chất liệu, kỹ thuật làm giấy cùng những hình tượng, đường nét trang trí có thể cung cấp một biểu tiêu chí có giá trị về nhiêù mặt. Nghề làm giấy sắc hầu như đã mai một, nên bảo tồn sắc phong cũng là bảo tồn chứng tích của nghề thủ công cổ truyền này.
Phân tích kỹ đưới nhiều góc độ chuyên môn còn có thể khai thác từ sắc phong nhiều thông tin mang nhiều ý nghĩa và giá trị…
Chưa ai tiến hành điều tra và thống kê tình trạng bảo tồn và phân bổ sắc phong trên cả nước. Nhưng kết quả điều tra tại một số làng xã cho thấy rằng do qua thời gian, do điều kiện khí hậu, do các biến cố lịch sử và do cả sự bất cẩn của con người, rất nhiều bằng sắc phong đã bị hư hỏng, huỷ hoại. Tuy nhiên khối lượng sắc phong còn được bảo tồn cho đến nay vẫn còn khá đồ sộ, phải kể đến hàng vạn đơn vị. Nhìn chung các sắc phong đang đứng trước nguy cơ bị huỷ hoại nghiêm trọng dưới nhiều dạng thức khác nhau:
- Thiếu phương tiện bảo quản, các sắc phong thường được đựng trong ống gỗ hay tre, có khi chỉ quấn lại và bọc giấy bên ngoài, nhiều nơi lại không được chăm sóc, nên bị khí hậu nóng ẩm làm hư hỏng dần, có nơi còn bị mối mọt gậm nhấm hay bị chuột chui vào làm tổ.
![]() |
| Một bản Sắc phong còn nguyên vẹn. |
Gần đây, nhiều thôn làng, dòng họ thuê dịch sắc phong ra chữ quốc ngữ và do không biết chữ Hán, không hiểu giá trị của bản gốc nên chỉ biết giữ gìn và sử dụng bản dịch, còn nguyên bản không lo bảo quản để mất mát, có khi còn đem cho hẳn người dịch.
Cũng gần đây, có những người sưu tầm sắc phong và từ đó xuất hiện những kẻ trộm cắp, hay lùng mua sắc phong đem bán, gây ra một tác nhân mới đe doạ nguồn sắc phong gắn liền với nguồn gốc và cả hệ thống kiến trúc, tín ngưỡng dân gian tại chỗ.
Tất nhiên, cũng có nơi và một số cộng đồng đã hiểu biết về giá trị văn hoá và tâm linh của sắc phong nên từ đó có ý thức bảo quản nghiêm ngặt.
Sắc phong cần đựơc đánh giá là nguồn tư liệu quý, một di sản văn hoá cần được bảo tồn.
Thời Pháp thuộc, Trường Viễn Đông Bác Cổ đã thu thập và bảo tồn một vốn Hán Nôm đồ sộ, kể cả một số bản dập bia, nhưng hình như chưa có thì giờ đụng đến sắc phong. Với sáng kiến và tài trợ của Quỹ Thuỵ Điển- VN phát triển văn hoá, từ mấy năm nay chúng tôi đã suy nghĩ về dự án đóng góp vào việc bảo tồn sắc phong. Chúng tôi đã đi tìm hiểu khá nhiều địa phương. Thực tế rất đau lòng: tại một đình làng vùng chiêm, khi mở ống quyển ra thì thấy đa số sắc phong giấy đã mục. Nơi khác mở ra thì ống là ổ chuột (một con chuột từ trong ống chạy ra), chúng đã cắn mất một nửa số sắc phong…
Dự án đóng góp bảo tồn sắc phong của chúng tôi đã được nghiên cứu theo hai cách:
- Thuê bồi lại và tìm phương tiện bảo quản. Biện pháp này không thành công vì tiền bồi mỗi bản lên tới 100.000đ với thời gian hơn 10 ngày. Như vậy, với hàng vạn bản thì sao làm được. Việc tìm phương tiện bảo tồn nhiều nhà chuyên môn không nhất trí. Hơn nữa có nhiều địa phương không muốn cho xem sắc phong. Có nơi đã thoả thuận quỹ Thuỵ Điển chi tiền cho mấy cụ ra Hà Nội mang theo sắc phong để đợi bồi rồi mang về, nhưng khi xe đến thì dân không đồng ý cho mang ra khỏi làng. Như vậy cách đầu không thực hiện được.
Do đó buộc phải tìm phương án hai:
- Trước mắt phải lo cấp tốc bảo vệ lấy phần chữ và trang trí của các sắc phong bằng cách chụp ảnh kỹ thuật số với những thông tin về tên gọi và địa điểm nơi đang gìn giữ đi kèm rồi đưa vào đĩa. Những đĩa này sẽ được sắp xếp theo hệ thống đơn vị hành chính hiện nay (tỉnh, huyện, xã, thôn) và tập trung bảo quản tại Thư Viện Quốc Gia (cùng trong phòng tư liệu Hán Nôm).
Vì tài trợ của quỹ Thuỵ Điển có hạn nên chúng tôi sẽ làm thí điểm tại một tỉnh rồi tiếp tục mở rộng ra các tỉnh khác tùy theo khả năng.
Chúng tôi rất mong các cấp có thẩm quyền quan tâm bằng cách có chỉ thị về việc bảo tồn sắc phong (giao nhiệm vụ cho các Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh và các Phòng văn hóa huyện). Về phần chúng tôi, với sự giúp đỡ của Vụ Hợp tác quốc tế và Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa - Thông tin, chúng tôi sẽ bắt đầu thực hiện thí điểm dự án.
Rất mong đựơc sự ủng hộ của nhân dân các địa phương và đề nghị các nhà nghiên cứu, các nhà sử học lên tiếng cùng chúng tôi báo động:
- Hữu Ngọc - Chủ tịch Quỹ Thụy Điển Việt Nam phát triển văn hóa;
- Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội sử học Việt Nam;
- Nguyễn Văn Huy - Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam;
- Phạm Thế Khang - Giám đốc Thư viện Quốc Gia.
Nguồn: nhandan.com.vn, 15/08/2006









