Thử nghiệm về dân tộc - vũ đạo học
Sử sách cũ như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử lược, Việt sử thông giám cương mục, An Nam chí lược, Lịch triều hiến chương loại chí, Kiến văn tiểu lục, Ô châu cận lục…có nói đến múa của người Kinh, tuy nhiên rất sơ lược cho nên trong bài “ Vốn múa dân tộc Kinh có phong phú không”, đăng ở tạp chí Văn nghệ số 79.Chúng tôi mới chỉ điểm qua tình hình nghiên cứu lịch sử này.
Sau 16 năm khảo sát điền dã ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam, tham dự các lễ hội dân gian, tôn giáo, cung đình, chúng tôi mới xây dựng được chuyên khảo “ Nghệ thuật múa dân tộc Việt” xuất bản năm 1979. Ở đây múa dân gian, múa tôn giáo, múa cung đình của người Việt được xem xét ở góc độ dân tọc học trong các chương II, III IV. Ở các chương tiếp theo, chúng tôi nói đến vũ đạo học:
- Chương V: Múa trong ca kịch truyền thống
- Chương VI: Hình thức, thể loai múa.
- Chương VII: Ngôn ngữ múa.
Chuyên khảo này chỉ mới đi vào múa truyền thống của dân tộc Việt nghiên cứu ở cuốn Truyền thống và hiện đại trong múa dân tộc Việt. Sự nghiên cứu đối tượng ở góc độ lịch sử, địa lý, khảo cổ, học dân tộc học đã giúp chúng tôi nhận biết các vấn đề đạo học như:
- Những phương tiện biểu hiện cổ truyền.
- Những phương tiện biểu hiện đương đại.
- Cấu tạo động tác.
- Cấu trúc điệu múa.
Nếu hai công trình Nghệ thuật múa dân tộc Việt, Truyền thống và hiện đại trong múa dân tộc Việt,nghiên cứu đối tượng trên diện rộng, nghĩa là “tiến trình nghệ thuật múa dân tộc Việt ở ba miền Bắc, Trung, Nam” thì khi cần thiết đi sâu vào đối tượng tại một điểm, chúng tôi tiếp tục khảo nghiệm qua công trình “ Nghệ thuật múa ở Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội”. Đối tượng nghiên cứu được xem xét trên bình diện lịch đại, nghĩa là “trong 990 năm (từ 1010 đến năm 2000) và trên bình diện đồng đại, nghĩa là “Trên các lĩnh vực sáng tác, biểu diễn, nghiên cứu, huấn luyện”.
Dân tộc học giúp chúng tôi tìm ra đặc điểm của nghệ thuật múa vùng Thăng Long được tạo nên bởi những điều kiện địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, lễ nghi. Đặc điểm nghệ thuật múa không tránh khỏi sự chi phối của đặc điểm văn hoá vùng.
- Thăng Long là một trung tâm văn hoá - múa Đại Việt (các quận huyện đều có múa truyền thống).
- Tinh thần thượng võ của người Hà Nội xưa được thể hiện trong các loại múa võ, đấu vật…
- Sự hội tụ các tài năng hát múa ở Thăng Long tạo nên sự đa dạng, phong phú của múa truyền thống về hình thức, thể loại.
- Khả năng bản địa hoá các yếu tố múa ngoại dị (Chàm, Trung, Hoa, Pháp) làm giàu ngôn ngữ múa Việt ở Hà Nội.
Song song với việc nghiên cứu múa dân tộc Việt, chúng tôi tìm hiểu cả múa ở các dân tộc ít người. Cuốn Xoè Thái, xuất bản năm 1985, là kết quả nghiên cứu múa Thái ở Lai Châu từ góc độ dân tộc – vũ đạo học. Các loại xoè (xoè sinh hoạt, xoè biểu diễn được xem xét trong mối quan hệ với phong tục, tập quán, lễ nghi của dân tộc Thái (ngành Thái Trắng).
Trước khi đề cập đến vấn đề múa, chúng tôi phải đặt cơ sở dân tộc học cho vấn đề ấy. Đó là đời sống kinh tế, tổ chức xã hội và sinh hoạt văn hoá tộc người.
Mở rộng đối tượng nghiên cứu và cũng bằng phương pháp tiếp cận ngành dân tộc - vũ đạo học, chúng tôi khảo sát múa truyền thống các dân tộc cư trú ở nước ta trên 3 miền Bắc, Trung, Nam. Ở cuốn Múa dân gian các dân tộc Việt Nam ,xuất bản năm 1994. Múa dân gian được xem xét trong quan hệ với đời sống kinh tế - xã hội của tộc người và với phong tục tập quán, lễ nghi, trong quan hệ giữa truyền thống và hiện đại.
Dân tộc học đặt cơ sở khoa học cho việc xây dựng lý luận múa dân gian từ các vấn đề khái niệm, đặc trưng đến sự vận động của múa dân gian, vùng văn hoá múa, hình thức, thể loại và phương tiện biểu hiện múa.
Những công trình Nghệ thuật múa dân tộc Việt, Truyền thống và hiện đại trong múa dân tộc Việt, Xoè Thái…đã được giải thưởng Nhà nước năm 2001. Điều đó có nghĩa là phương pháp tiếp cận dân tộc - vũ đạo học trong quá trình nghiên cứu múa ở các dân tộc Việt Nam đã đảm bảo chất lượng khoa học cho các công trình ấy.
Dân tộc học đã tạo được tiền đề lý luận cho việc nghiên cứu múa dân tộc nói chung (và múa dân gian nói riêng) của các tộc người ở Việt Nam, đặc cơ sở khoa học cho lý luận múa dân tộc Việt nam tránh được sự khiên cưỡng vận dụng lý luận múa phương Tây vào việc lý giải các hiện tượng múa truyền thống Việt Nam.
Đầu tiên, dân tộc học nghiên cứu sự tiến hoá của một tộc người, môi trường sống, các hình thức tổ chức kinh tế - xã hội, phong tục - tập quán, lễ nghi, các loại hình văn hoá vật chất và phi vật chất.
Dân tộc học tạo những tiền đề lý luận để vũ đạo học nghiên cứu múa của một dân tộc trong quá trình phát triển từ truyền thống đến hiện đại. Vũ đạo học còn có khả năng phát hiện tính quy luật của sự sáng tạo múa ở một cộng đồng dân tộc.
Vũ đạo học nghiên cứu những vấn đề lý luận về múa dân tộc để xây dựng cơ sở khoa học cho những sáng tạo mới mà nghệ thuật múa đương đại đang hình thành trong quá trình kế thừa và phát triển múa truyền thống.
Hơn nửa thế kỷ qua, thực tiễn hoạt động lý luận cho chúng tôi thấy sự tiếp cận dân tộc – vũ đạo học là phương pháp tối ưu để tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu múa dân tộc Việt nam và đưa ngành vũ đạo học Việt Nam lên ngang tầm các nước trên thế giới.
Khi đánh giá công trình Truyền thống và hiện đại trong múa dân tộc Việt,Hội đồng Quốc gia chấm luận án tiến sĩ khoa học của Liên Xô (cũ) đã nhận xét: Kinh nghiệm của nhà nghiên cứu Việt Nam, những phương pháp khai thác này, các nước đang phát triển ở phương Đông có thể tham khảo.
Qua những thử nghiệm về dân tộc - vũ đạo học trên đây, phương pháp tiếp cận liên ngành (khoa học xã hội và nghệ thuật học) đã đưa việc nghiên cứu múa dân tộc Việt Nam lên tầm cao và mở ra một hướng đi về phương pháp nghiên cứu. Qua những cuốn Múa các dân tộc ít người ở miền Nam Viễn Đông Liên Xô(1979) của Karabanôva và Múa các dân tộc ở Đông Bắc Xibiari(1983) của Joócnhítxkaia, đã có mấy nhà vũ đạo học Nga đi theo hướng này.
Ở Việt Nam rất cần phát triển liên ngành dân tộc - vũ đạo học.








