Thơ Việt lai Pháp
Như bài thơ sau đây nói về cảnh ngộ một phụ nữ Việt lấy chồng làm Công sứ người Pháp đã hết hạn về nước.
J’écris(tôi viết) tình thư une lettre(một lá thư)
Envoie(gửi) thăm hỏi me sừ lơ Résident(ông công sứ)
Toute seule(một mình) gạt nước mắt than rằng:
Cochon(con lợn) cái phận long đong lỡ làng.
Từ khi thiếp bén duyên chàng
La noce(đám cưới) chưa đặng một bàn tiệc vui,
Eloigner(xa cách) ai khéo dục xui,
Couteau(con dao) ai nỡ cắt mùi nguyệt hoa.
La cour(sân nhà) cỏ mọc trắng tà
La chambre(buồng ngủ) biết lấy ai làm ami(bạn)
Mình mặc chiếc chemise (áo lót) lấp ló,
Ta figure(khuôn mặt anh) thấy đó mà mong.
Bây giờ tình biết comment(làm sao bây giờ).
Pourquoi(tại sao) nỡ để silence(im lặng) cho đành!
Tiếc rằng trước đây chưa co ai để tâm sưu tầm giới thiệu dòng thơ lai đặc sắc này. Tôi còn nhớ trước năm 1945 chỉ có một nhà nghiên cứu – đó là một giáo sư văn chương nổi tiếng mô phạm là Giáo sư Hoàng Ngọc Phách đã viết một luận văn về dòng thơ lai này, được đăng trong tập Thời thế văn chương, hình như do Nhà xuất bản Cộng Lực ở Hà Nội ấn hành. Cứ tưởng là trong bối cảnh mới dòng thơ đó đã chấm dứt. Nào ngờ gần đây ông bạn thân hơn nửa thế kỷ của tôi là Giáo sư Dương Thiệu Tống từ Thành phố Hồ Chí Minh đọc qua điện thoại cho tôi một bài thơ do ông làm, GS. Tống là chuyên gia hàng đầu về giáo dục học, nhưng cũng sành văn chương đã có công trình nghiên cứu về Dương Khuê – Dương Lâm, lại có hồi ký Thuở ban đầuđược bạn đọc rất ưa thích. Nhân đây xin tiết lộ thêm một bí mật: GS. Tống là người đã dịch ra tiếng Anh bài hát Thiên thaicủa Văn Cao trong kháng chiến chống Pháp tại Thanh Hoá, đến tận ngày nay nhiều người vẫn còn thuộc và hát. Sau đây nguyên văn bài thơ mới làm của GS. Tống:
Nhàmoi (moa là tôi) bị cướp!
Nhàmoi cho ởlui (luý là anh ta)tant pis (tăng pi là cóc cần)
Cướp của mà không tiếngmerci (méc – xì là cảm ơn),
Mặc kệmoi (moa) kêuvan partout (pác tú là khắp nơi)
Ung dunglui (luý) vẫn sốngici (i – xì là ở đây)
Ân tình nhân nghĩane vaut rien (nơ vô riêng là không có giá trị gì),
Móc ngoặc ô dùcà suffit (xà suýp – phi là đã đủ rồi)
Chỉ tộile juge (lơ – duy – giơ là quan toà) quên cáitâche (trách nhiệm),
Nên đành chịulép toute la vie (tút la vi là suốt cả đời).
Lý do có bài thơ ứng khẩu trên như sau:
Nguyên gia đình GS. Dương Thiệu Tống có một ngôi nhà tại thành phố Huế. Sau khi GS. Tống vào dạy học tại thành phố Sài Gòn thì ngôi nhà đó là nhà thờ của gia đình, có người trông coi. Sau khi Huế giải phóng năm 1975, ngôi nhà đó được tạm giao cho một cán bộ kháng chiến về ở, và cũng đã có thoả thuận là ông ta sẽ mua lại ngôi nhà đó. Nhưng rồi sau đó ông ta từ chối không mua vì tự cho là có tiêu chuẩn được phân nhà, và mặc nhiên cứ ở ngôi nhà đó, gian nhà thờ họ Dương phía trong bị đóng kín. Tình cờ có lần GS Tống ra Huế họp hội nghị nên có tranh thủ ghé lại thăm ngôi nhà của gia đình mình, định vào thắp hương nhà thờ tổ tiên, nhưng không thể vào được vì cửa đóng then cài.
Việc này có nhiều người biết, nhất là học sinh cũ của GS Tống – GS Tống từng có thời kỳ làm hiệu trưởng trường Quốc học Huế trong nhiều năm, số học sinh của ông rất đông – nên đã có người viết bài đăng lên báo, gây sự bất bình trong dư luận Huế. Riêng GS. Dương Thiệu Tống với cái chất văn hoá - nghệ sĩ của mình đã có bài thơ trên để giải toả nỗi lòng.








