Thế nào là thuế môi trường?
Chúng ta đều biết môi trường sinh thái có thể dung nạp hoặc làm sạch những chất ô nhiễm do hoạt động kinh tế xã hội gây ra, đồng thời lại có thể cung cấp vật chất cho các hoạt động kinh tế xã hội đòi hỏi. Cho nên, từ góc độ kinh tế mà nói, môi trường sinh thái là một loại tài nguyên, hơn nữa cùng với sự phát triển của xã hội, nó ngày càng trở nên khan hiếm hơn. Tính khan hiếm đó được thể hiện ở giá trị môi trường sinh thái. Nhưng dưới chế độ kế hoạch truyền thống, tài nguyên môi trường sinh thái luôn bị xem là không có giá trị, có thể tùy ý chiếm dụng không cần bồi thường, kết quả hình thành hiện tượng kỳ quái là “tài nguyên không có giá trị, nguyên liệu giá thấp, sản phẩm giá cao”. Cho nên thuế môi trường thực tế có thể xem là khoản kinh phí để bù đắp cho sinh thái môi trường đã bị sử dụng. Nó thể hiện sự bù đắp của người khai thác hoặc người tiêu phí môi trường dưới hình thức thuế để cân bằng với sự ô nhiễm hoặc sự phá hoại môi trường sinh thái. Nó thể hiện nguyên tắc khai thác, lợi dụng, bảo vệ môi trường sau: “Ai gây ô nhiễm môi trường thì người đó phải xử lý, ai khai thác thì phải bảo vệ, ai phá hoại thì phải khôi phục, ai lợi dụng thì phải đền bù, ai thu lợi thì phải trả giá”.
Nhiều nước trên thế giới đã sử dụng các biện pháp để quản lý đối với các hoạt động khai thác môi trường sinh thái, trong đó bao gồm thuế khai thác, quỹ tín dụng hỗ trợ. Ở Pháp năm 1960 đã thông qua một đạo luật: Nhà nước có quyền thu thuế đối với thiên nhiên của khu vực, hoặc đối với khu vực có tính nhạy cảm, dùng tiền thuế đó để làm quỹ hỗ trợ công khai cho khu vực trồng cây xanh, hoặc trồng rừng. Ngoài ra năm 1975, nước Pháp còn thực hiện thu thuế khai thác cát đối với Công ty khai thác cát trong lòng đất hoặc ở bãi cát. Khoản thuế này chủ yếu dùng vào việc khôi phục môi trường mặt đất sau khi bị khai thác. Ở Đức, năm 1989 bắt đầu thu thuế sinh thái, có những khu vực còn thu loại thuế đặc biệt về bảo vệ môi trường thiên nhiên, thuế trồng cây, thuế hỗ trợ bảo vệ môi trường v.v… Ngoài thu thuế ra, pháp luật Đức còn dùng phương thức “thu phí” để giải quyết vấn đề môi trường và sinh thái. Ví dụ trong việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, khai thác nguồn nước, thải các chất có độc và thiêu đốt đều phải nộp phí. Ở Mỹ, đối với những hầm mỏ đã hoang phế thì thu phí khai thác, mỗi tấn than nộp 35 cen. Tiền thu phí này chỉ dùng để khôi phục cảnh quan mặt đất của những khu mỏ đã bỏ hoang. Ở Thụy Điển có một chế độ thu phí rất hoàn chỉnh và lành mạnh, trong đó bao gồm đại bộ phận là các khoản thuế có liên quan với môi trường sinh thái, như thuế năng lượng, thuế thải khí cacbonic, thuế thải khí sunfurơ. Bỉ là nước đầu tiên ở châu Âu thu “thuế xanh”. Sau khi phải nộp thuế này, người tiêu dùng thải những sản phẩm có hại ra môi trường rất ít.
Ở Trung Quốc, tuy hiện nay chưa chính thức thu thuế môi trường, nhưng đến năm 1993 toàn quốc đã có 17 vùng triển khai công tác thu thuế bù đắp cho môi trường sinh thái. Những khoản thu này đều liên quan đến việc khai thác các hầm mỏ, đất đai, du lịch, các nguồn tài nguyên nước, rừng, thảo nguyên và các thực vật dùng làm dược liệu.
Trong cơ chế kinh tế thị trường, thu thuế tài nguyên là một biện pháp kinh tế có hiệu quả để bảo vệ môi trường sinh thái. Nhưng việc thực thi nó đòi hỏi phải có những chính sách tương ứng để hỗ trợ và những văn bản pháp luận có liên quan đển bảo đảm.
Mọi người đều biết có hàng rào mậu dịch. Hàng rào mậu dịch là chỉ trong quan hệ mậu dịch quốc tế, những nước nhập khẩu vì lợi ích của nước mình mà đã đánh thuế cao đối với hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đích giảm bớt và ngăn cản hàng nhập khẩu. Vậy “Hàng rào xanh” là thế nào?
Hiện nay, mậu dịch thế giới đã bước vào thời đại bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường đã bước vào phạm trù mậu dịch toàn cầu. Ngày càng có nhiều nước phát triển khi nhập khẩu hàng hoá đã dựng lên “Hàng trào xanh”. Ví dụ ngày 1/1/1995 nước Đức cấm sản xuất nhập khẩu toàn diện 118 hàng dệt, trang phục nhuộm và những hàng da kể cà giày dép có thể sinh ra ung thư. Sau khi thi hành Quy định này, rất nhiều sản phẩm dệt và in nhuộm của Trung Quốc đều bị từ chối. Ví dụ này nói với chúng ta rằng: “Hàng rào xanh” là chỉ những hàng hóa nhập khẩu trong quá trình sản xuất hoặc sử dụng sẽ gây nên ô nhiễm môi trường hoặc phá hoại sinh thái. Đánh thuế cao với những hàng đó mục đích là để bảo vệ môi trường chung của nhân loại.
Đem mậu dịch móc nối với môi trường tức là muốn thông qua biện pháp mậu dịch khiến cho một số biện pháp bảo vệ môi trường được chấp hành triệt để. Nhưng làm như vậy thực tế là bảo vệ lợi ích của các nước phát triển, làm tổn hại lợi ích của các nước đang phát triển. Đó là vì trình độ khoa học kỹ thuật của các nước phát triển rất cao, thông tin nhanh nhạy, chỉ có họ mới có thể dựng lên “Hàng rào xanh”. Còn những nước đang phát triển vì tiền vốn ít, kỹ thuật lạc hậu nên sản phẩm muốn đạt được tiêu chuẩn bảo vệ môi trường cao là rất khó. Do đó “Hàng rào xanh” luôn luôn khiến cho sản phẩm của các nước đang phát triển bị khống chế, thậm chí khiến cho nó chịu những thiệt hại về kinh tế rất lớn. Ví dụ Trung Quốc, năm 1995 một bộ phận sản phẩm vì không phù hợp với chỉ tiêu môi trường và pháp quy của các nước phát triển nên đã bị trả về hoặc phải bồi thường, tổn thất hơn 20 tỷ nhân dân tệ. Vậy những nước đang phát triển như Trung Quốc nên làm gì đối với “Hàng rào xanh”? Một mặt chúng ta phải kiên trì không mệt mỏi, đấu tranh để giữ được địa vị mậu dịch bình đẳng, mặt khác phải không ngừng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, tích cực mở rộng nền “sản xuất sạch” và quản lý khoa học hóa, thi hành tiêu chuẩn quản lý môi trường ISO 14000 thông dụng của quốc tế. Mỗi khâu của quá trình sản xuất, các xí nghiệp đều phải quán triệt nguyên tắc bảo vệ môi trường, tiết kiệm nguồn năng lượng và tìm cách nhận được Chứng chỉ hệ thống môi trường ISO 14001 để được thị trường quốc tế công nhận “Hộ chiếu xanh”. Như vậy chúng ta sẽ có địa vị chủ động trong mậu dịch quốc tế.
Ngày nay trên thế giới đang dấy lên “làn sóng xanh”. Danh từ “xanh” mọc ra khắp nơi như măng mọc sau cơn mưa xuân. Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật cũng đã xuất hiện một danh từ mới “kỹ thuật xanh”.
“Kỹ thuật xanh” là cách nói hình tượng, thực chất là chỉ những kỹ thuật khoa học có thể thúc đẩy loài người tồn tại và phát triển giữa con người và thiên nhiên. Nó không những bao gồm phần cứng, như các thiết bị hạn chế ô nhiễm, các máy do sinh thái và kỹ thuật sản xuất sạch mà còn bao gồm cả phần mềm, như phương thức thao tác cụ thể và phương pháp vận chuyển tiêu thụ, cũng như những hoạt động để bảo vệ môi trường.
Căn cứ vào các “kỹ thuật xanh” có tác dụng khác nhau đối với môi trường mà có thể chia thành ba tầng thứ: kỹ thuật xử lý đoạn cuối, công nghệ sạch và sản phẩm xanh.
Kỹ thuật xử lý đoạn cuối là chỉ những kỹ thuật phân tách phế thải, xử lý và thiêu hủy, kỹ thuật giảm thiểu những phế thải ô nhiễm, như kỹ thuật tách lưu huỳnh ra khỏi khói.
Công nghệ sạch là chỉ những công nghệ tiên tiến được sử dụng trong quá trình sản xuất và những kỹ thuật để giảm thiểu chất ô nhiễm. Nó chủ yếu bao gồm nguyên liệu thay thế, kỹ thuật công nghệ cải tạo và tăng cường quản lý nội bộ và những loại hình khác như lợi dụng tuần hoàn nguyên liệu tại hiện trường.
Sản phẩm xanh là chỉ những sản phẩm trong quá trình sử dụng không gây nguy hại cho môi trường. Nó chủ yếu bao gồm các tầng hàm nghĩa sau: sản phẩm trong quá trình tiêu dùng và những tàn dư của chúng để lại sau quá trình tiêu dùng gây hại tối thiểu cho môi trường (bao gồm thể tích sản phẩm hợp lý, sự đóng gói và chức năng sử dụng hợp lý); có thể tách ra để thiết kế; sản phẩm sau khi thu hồi có thể tuần hoàn tái sinh.
Kỹ thuật xanh có bốn đặc trưng cơ bản. Thứ nhất, kỹ thuật xanh không phải là một kỹ thuật đơn nhất nào đó mà là một kỹ thuật hoàn chỉnh toàn bộ. Không những bao gồm sinh thái nông nghiệp, sản xuất sạch mà còn bao gồm kỹ thuật phòng ngừa phá hoại sinh thái, kỹ thuật phòng ngừa ô nhiễm và kỹ thuật do môi trường, v.v… Giữa các kỹ thuật này có mối liên quan lẫn nhau. Thứ hai, kỹ thuật xanh có tính chiến lược cao độ. Nó gắn chặt với chiến lược có thể tiếp tục phát triển, sự sáng tạo và phát triển kỹ thuật xanh là thực hiện con đường căn bản để có thể tiếp tục phát triển. Thứ ba, cùng với thời gian và sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, bản thân kỹ thuật xanh cũng không ngừng biến đổi và phát triển. Đặc biệt là quan niệm về giá trị môi trường, cái dùng làm căn cứ của kỹ thuật xanh cũng không ngừng biến đổi, vì thế kỹ thuật xanh cũng biến đổi theo. Cuối cùng kỹ thuật xanh có mối quan hệ mật thiết với kỹ thuật cao mới. Kỹ thuật cao mới có thể tìm thấy mảnh đất dụng võ trong kỹ thuật xanh. Hai cái kết hợp với nhau mới có thể thúc đẩy xã hội nhân loại phát triển tốt hơn.
Nền văn minh nhân loại đã đi qua những hậu quả tang thương: văn minh nông nghiệp sớm nhất đã phá hoại rừng núi, thảo nguyên, trồng trọt khiến cho từng mảng diện tích đất lớn bị xói mòn, cho nên con người gọi đó là nền “Văn minh màu vàng”; văn minh công nghiệp tiếp theo tạo nên ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, khiến cho bầu trời khói đen mù mịt, nước biến thành màu đen và thối, cho nên con người gọi đó là “Văn minh màu đen”. Còn hiện nay con người đang cố gắng xây dựng “Văn minh màu xanh”, kêu gọi con người chung sống hài hòa với thiên nhiên, môi trường và kinh tế cùng phát triển hài hòa. Chỉ có coi trọng kỹ thuật xanh, không ngừng nghiên cứu và mở rộng kỹ thuật xanh mới có thể cho quả đất trở lại màu xanh.
Nguồn: T/c Môi trường và Sức khỏe, số 85, 5/2008, tr 26








