Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 05/06/2013 21:34 (GMT+7)

Thể chế hóa quan điểm của Nghị quyết Hội nghị TW6 về phát triển KH&CN trong Dự thảo Luật KH&CN (sửa đổi)

Trong Dự thảo Luật, các quan điểm cơ bản và mục tiêu tổng quát phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) trong Nghị quyết TW6 được quán triệt và thể hiện ở các quy định về nhiệm vụ của hoạt động KH&CN (Điều 4), nguyên tắc hoạt động KH&CN (Điều 5), chính sách của Nhà nước về phát triển KH&CN (Điều 6) và toàn bộ các chương, điều cụ thể của Dự thảo Luật. Và để thực hiện mục tiêu tổng quát đó, trong Dự thảo Luật đã có những qui định về nhiệm vụ và giải pháp, bao gồm:

A. Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển KH&CN

Đưa kế hoạch ứng dụng và phát triển KH&CN trở thành một cấu phần không thể thiếu của quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành và địa phương. Nội dung này trong Dự thảo Luật đã xây dựng các quy định sau:

1. Hoạt động KH&CN có nhiệm vụ xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối phát triển đất nước, chính sách, pháp luật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Điều 4); Giải quyết các yêu cầu về KH&CN nhằm bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe của nhân dân; dự báo kịp thời, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu (Điều 6).

2. Nhiệm vụ KH&CN phải là những vấn đề KH&CN cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển năng lực KH&CN của đất nước; Các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng phải tạo tiền đề và cơ sở cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng phải có địa chỉ hoặc phương án triển khai ứng dụng cụ thể và khả năng tạo ra sản phẩm mới, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực KH&CN (Điều 25).

3. Các nhiệm vụ KH&CN phải xuất phát từ thực tiễn, do các cơ quan, tổ chức, cá nhân đề xuất (Điều 5, Điều 26 và Điều 27).

4. Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức KH&CN liên kết với các doanh nghiệp để xác định và thực hiện nhiệm vụ KH&CN phục vụ yêu cầu đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa (Điều 32).

5. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đặt hàng thực hiện nhiệm vụ KH&CN có trách nhiệm tiếp nhận, tổ chức ứng dụng, đánh giá hiệu quả ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN do mình đặt hàng sau khi được đánh giá, nghiệm thu (Điều 41).
V.v...

B. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức, hoạt động KH&CN

1. Đổi mới hệ thống tổ chức KH&CN

Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ, bao gồm cả các trường đại học, bảo đảm hiệu quả hoạt động cao, phù hợp với các mục tiêu và định hướng nhiệm vụ phát triển KH&CN trong từng giai đoạn, Dự thảo Luật KH&CN có các quy định theo tinh thần đổi mới về: các loại hình tổ chức KH&CN và hệ thống các tổ chức KH&CN (Điều 9); quy hoạch hệ thống tổ chức KH&CN (Điều 10); điều kiện thành lập, đăng ký hoạt động KH&CN (Điều 11); thẩm quyền và trình tự, thủ tục thành lập tổ chức KH&CN (Điều 12);
V.v...

2. Đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CNđược thể hiện thông qua các quy định: Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập về về nhân lực, kinh phí hoạt động dựa trên kết quả và hiệu quả hoạt động KH&CN (Điều 5 và Điều 13); đầu tư cho tổ chức KH&CN dựa trên kết quả và hiệu quả hoạt động (các điều của mục 1, Chương VI về đầu tư và cơ chế tài chính phục vụ phát triển KH&CN); tăng cường liên kết giữa tổ chức KH&CN và doanh nghiệp trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực (Điều 32); giao quyền sở hữu các kết quả được tạo ra từ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước cho cơ quan chủ trì nhiệm vụ KH&CN hoặc tổ chức có khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (Điều 41); có cơ chế phân chia lợi ích giữa Nhà nước, cơ quan chủ trì và tác giả (Điều 43); các tổ chức KH&CN được vay vốn từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam, các quỹ dành cho KH&CN hoặc các tổ chức tín dụng khác (các điều từ điều 59 đến điều 65);
V.v...

3. Đổi mới quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN, đổi mới cơ chế, chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ KH&CN. Dự thảo Luật dành toàn bộ Chương II cho vấn đề này theo tinh thần tạo môi trường thuận lợi, điều kiện vật chất để cán bộ KH&CN phát triển bằng tài năng và hưởng lợi ích xứng đáng với giá trị lao động sáng tạo của mình; có chính sách cụ thể trọng dụng đặc biệt đối với cán bộ KH&CN đầu ngành, cán bộ KH&CN được giao chủ trì nhiệm vụ quan trọng của quốc gia, cán KH&CN trẻ tài năng; có chính sách khen thưởng đối với tác giả các công trình công bố quốc tế, các sáng chế được bảo hộ trong nước và ở nước ngoài; hoàn thiện hệ thống chức danh khoa học, chức danh công nghệ, bổ sung quy định về “Ngày KH&CN Việt Nam”, hệ thống giải thưởng KH&CN, danh hiệu vinh dự Nhà nước cho cán bộ KH&CN. V.v...

4. Đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, phương thức đầu tư và cơ chế tài chính(Chương VI và một số điều có liên quan của các Chương khác) được thiết kế theo tinh thần đổi mới cơ chế xây dựng kế hoạch, dự toán ngân sách cho hoạt động KH&CN phù hợp với đặc thù của hoạt động và nhu cầu phát triển KH&CN; Nâng cao trách nhiệm và quyền hạn của bộ quản lý nhà nước về KH&CN trong việc hướng dẫn xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động KH&CN và thực thi các nguyên tắc, quy trình phân bổ và kiểm tra chi ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN (chi đầu tư phát triển, chi sự nghiệp); đẩy mạnh thực hiện cơ chế đặt hàng nhiệm vụ KH&CN gắn với trách nhiệm sử dụng kết quả KH&CN; áp dụng khoán và giao quyền chủ động cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN trong sử dụng kinh phí; hoàn thiện cơ chế đánh giá độc lập, tư vấn, phản biện, giám định xã hội trong hoạt động khoa học và công nghệ; áp dụng cơ chế linh hoạt trong cấp phát, quản lý kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; mở rộng áp dụng cơ chế tài chính của quỹ phát triển KH&CN; bổ sung và quy định rõ hơn mục đích chi, điều chỉnh định mức chi phù hợp với tình hình thực tế, đơn giản hóa các thủ tục thanh quyết toán tài chính trong hoạt động KH&CN; có cơ chế Nhà nước hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao, mua thiết kế, thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài thuộc các lĩnh vực ưu tiên; có cơ chế đầu tư đặc biệt để triển khai một số dự án KH&CN quy mô lớn phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc có tác động mạnh mẽ tới năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm quốc gia thương hiệu Việt Nam;

5. Kiện toàn, nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước về KH&CN.Dự thảo Luật (Chương IX) theo hướng tinh gọn, tập trung cho xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách; tăng cường điều phối liên ngành, liên vùng.

C. Triển khai các định hướng nhiệm vụ KH&CN

1. Tăng cường nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước và bảo đảm quốc phòng, an ninh và mục đích công cộng được thể hiện ở các quy định trong Dự thảo Luật như việc phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; gắn nhiệm vụ phát triển KH&CN với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; tạo tiền đề hình thành và phát triển kinh tế tri thức (Điều 6); Ngân sách Nhà nước cho KH&CN được dùng chi cho việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm, phục vụ lợi ích chung của xã hội; chú trọng các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực KH&CN (Điều 50).

2. Ưu tiên phát triển một số công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ liên ngành (Điều 6, Điều 50 và các điều khác liên quan), và đẩy mạnh ứng dụng, phát triển KH&CN trong các ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương được thể hiện trong tất cả các chương của Dự thảo Luật, đặc biệt tại Chương V (Điều 45).

3. Phát huy và tăng cường tiềm lực KH&CN quốc gia. Nhiệm vụ trọng tâm này được thể hiện trong nhiều điều của Dự thảo Luật: Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, chú trọng các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, trọng điểm quốc gia; áp dụng cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt để phát triển, đào tạo, thu hút, sử dụng có hiệu quả nhân lực khoa học và công nghệ; đầu tư đồng bộ, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất của các cơ sở nghiên cứu KH&CN quốc gia; khuyến khích, hỗ trợ xây dựng các trung tâm nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, các khu công nghệ cao, công viên công nghệ; nâng cấp và xây dựng mới các trung tâm nghiên cứu trong các trường đại học để gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, ứng dụng, triển khai, thương mại hóa công nghệ mới; Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng hoặc tài trợ cho việc xây dựng các khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư xây dựng, khuyến khích tổ chức, cá nhân tài trợ cho việc xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia và thống kê KH&CN hiện đại nhằm bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về các hoạt động KH&CN trong nước và thế giới.

Về nhiệm vụ Phát triển thị trường KH&CN được thể hiện ở Điều 6, Điều 69. Và Về hợp tác và hội nhập quốc tế về KH&CN, Dự thảo Luật đã dành toàn bộ Chương VIII làm rõ các nguyên tắc và biện pháp thúc đẩy hội nhập quốc tế về KH&CN.
***
Trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật, Bộ KH&CN đã quán triệt sâu sắc quan điểm và mục tiêu phát triển KH&CN nêu trong Nghị quyết TW6, đồng thời đã thể chế hóa kịp thời các các nội dung chủ yếu của Nghị quyết TW6 về các nhiệm vụ và giải pháp phát triển KH&CN cũng như định hướng nhiệm vụ KH&CN. Dự thảo Luật này khi được Quốc hội thông qua và ban hành sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi lĩnh vực hoạt động KH&CN, đưa KH&CN thực sự là động lực quan trọng trong phát triển KT-XH, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.