Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 18/08/2008 23:39 (GMT+7)

Tham khảo nguyên tắc chuẩn hoá thuật ngữ khoa học ở các nước

Công tác chuẩn hoá thuật ngữ ở nước ta mặc dù đã khiến các nhà chuyên môn quan tâm và tìm hướng giải quyết, nhưng hầu hết các giải pháp, những quy định tạm thời về thuật ngữ được đưa ra đều có những hạn chế và thiếu tính hợp lí. Nội dung của các giải pháp và quy định đó mới dừng lại ở khía cạnh chữa trị triệu chứng chứ chưa tìm đến tận căn nguyên của vấn đề. Các cách xử lí mới chỉ mang tính cục bộ và còn tuỳ tiện. Các tiêu chuẩn cần phải có của một thuật ngữ vẫn được đề cập đến như một phương châm mang tính chỉ đạo: khoa học, dân tộc và đại chúng cũng gây không ít khó khăn trong việc vận dụng vào việc xây dựng thuật ngữ tiếng Việt. Do điều kiện lịch sử, Việt Nam không phải là một quốc gia mạnh về nghiên cứu phát triển khoa học - kỹ thuật – công nghệ, mà thiên về ứng dụng các kết quả, thành tựu đã sẵn có của các quốc gia phát triển. Chính vì thế nên việc tự tạo ra các thuật ngữ tiên khởi là rất hiếm, nhất là khi đã có sẵn các thuật ngữ nước ngoài. Việc tiếp nhận và sử dụng các thuật ngữ quốc tế là điều không thể tránh, và cũng là điều không nên tránh, nhất là trong xu thế hội nhập toàn cầu và sự tiếp cận ngày càng gần với nền kinh tế tri thức của mỗi quốc gia. Mặc dù vậy thì mục tiêu đẩy mạnh sự phát triển của khoa học - kĩ thuật - công nghệ, làm bàn đạp để nâng cao mức tăng trưởng kinh tế cũng không phải là lí do chính đáng cho người Việt Nam gác lại việc xây dựng và chuẩn hoá tiếng Việt, thay vào đó là học ngoại ngữ và sử dụng các thuật ngữ nước ngoài. Muốn xây dựng và chuẩn hoá thuật ngữ, điểm lưu ý đầu tiên của các nhà chuyên môn phải là những yêu cầu cụ thể cần có cho sự ra đời của một thuật ngữ, sự biến đổi và tuổi thọ của nó trong một hệ thống thuật ngữ và trong một ngôn ngữ. Dưới đây chúng tôi xin trình bày một số suy nghĩ về vấn đề chuẩn hoá thuật ngữ khoa học sau khi đã tham khảo các ý kiến của các nhà nghiên cứu Việt Nam (Nguyễ Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Văn Khang…) và nước ngoài (Tom Hutchinson, Alan Waters, Roland Wilbur Brown, Juan C. Sager… xem phần tài liệu tham khảo).

Quá trình chuẩn hoá thuật ngữ là một quá trình độc lập, bao giờ cũng diễn ra song song với quá trình phổ biến một thuật ngữ, bắt đầu từ lúc một thuật ngữ mới được giới thiệu, trước hết là trong giới chuyên môn, cho đến lúc thuật ngữ đó được họ chấp nhận và sử dụng trong các tài liệu, văn bản và ngôn bản chuyên ngành, sau đó là đưa nó ra sử dụng rộng rãi. Nó chỉ thực sự được công nhận khi các nhà khoa học và công chúng chấp nhận sử dụng nó như một phương án tốt nhất trong văn cảnh mang tính chuyên môn. Điều đó cho thấy rằng một thuật ngữ chỉ có thể được lựa chọn bởi người sử dụng chứ không thể lựa chọn người sử dụng, tức là có thể tạo ra thuật ngữ, nhưng không thể áp đặt việc sử dụng nó cho công chúng, và công chúng cũng chính là những người nâng các thuật ngữ lên mức tiêu chuẩn. Việc chuẩn hoá thuật ngữ sẽ càng cấp thiết hơn khi có sự cạnh tranh giữa một số thuật ngữ biểu thị cùng một nội dung. Thuật ngữ không chấp nhận sự đồng nghĩa. Nói một cách ngắn gọn, các lí do và mục đích của việc chuẩn hoá thuật ngữ là: để tiết kiệm ngôn ngữ, để bảo đảm tính chính xác, để bảo đảm sự phù hợp trong hệ thống. Cụ thể là:

1. Mục đích tiết kiệm ngôn ngữ

Nếu thuật ngữ đưa ra mà cồng kềnh,dài dòng, hay phức tạp thì qua sử dụng, nó sẽ được đơn giản hoá và rút gọn lại. Nếu có hai hay ba thuật ngữ cùng chứa một nội dung thì thuật ngữ nào ngắn gọn hơn sẽ được sử dụng nhiều hơn. Ngày nay người ta dùng “ T. V” (/ ti vi/) nhiều hơn dùng “ vô tuyến truyền hình”, “ CPU” nhiều hơn “ bộ vi xử lý”, “ type” nhiều hơn “ đánh máy”, “ demo” nhiều hơn “ giới thiệu/ trình diễn quy trình”, “ Internet”chiếm chỗ của “ mạng toàn cầu”, “ chip” thay cho “ vi mạch điện tử”…

2. Mục đích bảo đảm tính chính xác

Nghĩa của thuật ngữ được sử dụng phải càng rõ ràng, chính xác càng tốt. Những thuật ngữ tối nghĩa, mờ nghĩa, nghĩa không rõ ràng sẽ bị đào thải, thay vào đó là các thuật ngữ có nghĩa chính xác cần thiết. Ví dụ: bộ chuyển đổi giốngđược thay bằng bộ thay đổi phích cắm và giắc cắm, vi mạch cỡ lớn/ vi mạch cực lớn, rõ ràng là các sự bất ổn trong cách diễn đạt ở đây vì đã là “ vi”, tức là rất nhỏ, lại còn “ lớn” và “ cực lớn”, nên được thay bằng vi mạch có mặt độ mạch lớn/ cực lớn; bộ phận có lỗ để cắmđược thay bằng giắc cắm; hệ thống thụ động chínhđược thay bằng hệ thống chủ - tớ/ hệ thống chính - phụ…

3. Mục đích bảo đảm sự phù hợp trong hệ thống

Thuật ngữ được điều chỉnh sao cho nó chỉ có một nghĩa và không có nét nghĩa nào trùng với nghĩa của một thuật ngữ khác trong hay ngoài hệ thống. Ví dụ: thuật ngữ virustrong tin học chỉ có nghĩa là một chương trình phá huỷ phần cứng, phần mềm của máy tính, có thể tự lây lan từ máy tính này sang máy tính khác,còn trong y học thì có nghĩa là vi trùng, vi sinh vật nhỏ nhất, dùng kính hiển vi thường cũng không nhìn thấy, phần lớn có thể gây bệnh.

Để thoả mãn những lí do và đạt được mục đích đã nêu, việc chuẩn hoá thuật ngữ khoa học phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. Dựa trên thực tế và quy luật sử dụng thuật ngữ khoa học, Juan C. Sager (Mĩ) đã đưa ra những nguyên tắc của việc chuẩn hoá thuật ngữ. Chúng tôi xin được giới thiệu chúng vì mọi ngôn ngữ đều bị chi phối bởi một số các quy luật chung trong sự phát triển của mình.

a. Nguyên tắc thứ nhất - Lựa chọn qua kiểm chứng thực tế

Quá trình chuẩn hoá thuật ngữ luôn luôn diễn ra sau quá trình chuẩn hoá các khái niệm mà nó gọi tên. Việc chuẩn hoá một ngôn ngữ là thực sự cần thiết để đơn giản hoá một dạng biểu thị có được nhờ sự nỗ lực của toàn xã hội. Đây chính là cố gắng để chọn lựa một hình thức biểu hiện thích hợp nhất của ngôn ngữ, là quá trình sáng tạo và kiểm nghiệm chặt chẽ với sự tham gia của nhiều tầng lớp xã hội. Ví dụ: thuật ngữ ATMmượn từ tiếng Anh/ Mĩ vào tiếng Việt có nghĩa là máy giao dịch tự động (Automatic Teller machine),nhưng đến nay được dùng trong tiếng Việt là máy rút tiền tự động,dưới cả dạng nói lẫn dạng viết, vì mọi người đều thấy rõ công dụng của nó là cho phép ta rút tiền bằng thẻ, mà không cần qua ngân hàng.

b. Nguyên tắc thứ hai - Có sự hợp tác của cộng đồng

Chuẩn hoá thuật ngữ là hoạt động mang tính kinh tế và xã hội mà kết quả của nó là kết quả của sự hợp tác có hiệu quả của tất cả những người có liên quan. Nó dựa trên sự thống nhất chung của toàn xã hội trong việc chấp nhận và sử dụng thuật ngữ chính xác trong từng lĩnh vực chuyên môn. Theo nguyên tắc này, thuật ngữ phải được đặt ra không chỉ bởi các nhà chuyên môn và cho riêng các nhà chuyên môn, mà còn có sự đóng góp của các nhà ngôn ngữ, và được chấp nhận bởi người sử dụng. Một thuật ngữ sẽ không đạt tiêu chuẩn nếu thuật ngữ ấy luôn bị sử dụng nhầm lẫn, hay gây nhầm lẫn cho người sử dụng. Ví dụ như thuật ngữ máy tính xác tay (portable) và máy tính cầm tay (polmtop)thường bị nhiều người Việt Nam tưởng lầm là một loại, nhưng trên thực tế máy tính cầm taylà loại máy tính nhỏ xíu, nằm gọn trong lòng bàn tay của người sử dụng, còn máy tính xách taylà máy có thể xách tay nhưng không thể để lên lòng bàn tay được.

c. Nguyên tắc thứ ba - Bảo đảm tính thân thiện với người sử dụng thuật ngữ

“Tính thân thiện” được hiểu là tính dễ dùng, dễ áp dụng của một thuật ngữ. Bởi vì trên thực tế, việc đề xuất một thuật ngữ có giá trị không đáng kể so với việc áp dụng nó trong giao tiếp khoa học và trong cuộc sống. Chính việc sử dụng thuật ngữ của số đông khiến người sử dụng đôi khi chấp nhận dùng thuật ngữ của ngôn ngữ khác nhằm đạt hạt hiệu quả cao trong giao tiếp, trong công việc. Thuật ngữ có vai trò rất lớn trong việc truyền bá một khoa học, nhất là những ngành khoa học công nghệ mang tính thực tiễn như tin học - viễn thông. Nếu thuật ngữ gần gũi với người sử dụng thì có nghĩa là chúng sẽ đóng góp không ít cho việc áp dụng các thành quả của ngành khoa học đó trong cuộc sống. Điều đó cũng có nghĩa là tính dễ dùng của thuật ngữ sẽ giúp cho khoa học ngày càng phát triển.

d. Nguyên tắc thứ tư - Bảo đảm tính tiềm năng của thuật ngữ

Chuẩn hoá một thuật ngữ đòi hỏi đầu tiên là yếu tố từ vựng (từ loại, khả năng hoạt động, cấu tạo từ… ) sau đó là nội dung (nghĩa) của từ. Việc chọn lựa một thuật ngữ còn phải tính đến khả năng phát triển của đối tượng mà nó biểu đạt. Từ một thuật ngữ có thể tạo ra các thuật ngữ có liên quan khác nhờ biến đổi, hay ghép từ. Đây cũng là một lí do khiến cho thuật ngữ phần lớn là danh từ, một từ loại có khả năng kết hợp với nhiều từ loại khác nhau (động từ, tính từ, danh từ, số từ…).

e. Nguyên tắc thứ năm - Liên tục điều chỉnh

Thuật ngữ đã được chuẩn hoá vẫn cần được kiểm tra lại khi đối tượng mà nó biểu đạt có những thay đổi rõ ràng. Khi điều kiện sử dụng và các đặc điểm khác của một đối tượng được biểu thị bằng thuật ngữ thay đổi thì phải có biện pháp kiểm tra lại để khẳng định liệu nó có còn phản ánh đúng khái niệm ban đầu hay không. Ví dụ, với công nghệ điện thoại cũ, dùng kĩ thuật truyền tín hiệu tương tự (analog transmision), khi gọi điện thoại người gọi phải quay số(dial), nhưng với công nghệ số (digital transmission) ngày nay, người gọi không phải quay số mà bấm số( press), nhẹ nhàng và tiện hơn, tuy nhiên thuật ngữ quay sốvẫn được sử dụng, nhất là ở dạng viết, trong khi trên thực tế, dưới dạng nói, nhiều người đã dùng bấm số.

f. Nguyên tắc thứ sáu - Bảo đảm tính pháp lí của thuật ngữ

Việc chuẩn hoá thuật ngữ phải được tiến hành hợp pháp, đúng luật và có sự hợp tác của các cơ quan hữu quan, của chính phủ.

Từ xưa tới nay vẫn tồn tại mâu thuẫn giữa việc đặt thuật ngữ và việc chuẩn hoá chúng. Việc tạo thuật ngữ xảy ra ngay khi một khái niệm mới xuất hiện hay được khám phá, nó đòi hỏi một lượng thời gian rất ngắn để thực hiện; còn việc chuẩn hoá thì diễn ra sau khi thuật ngữ đã ra đời và cần thời gian lâu hơn để trải nghiệm, đặc biệt là khi có hai hay ba thuật ngữ được tạo ra để biểu diễn cùng một nội dung. Quá trình chuẩn hoá chỉ kết thúc khi mọi đặc điểm của khái niệm mà thuật ngữ diễn đạt đã trở nên rõ ràng, đảm bảo cho sự tồn tại của thuật ngữ, gạt đi mọi phiên bản của nó. Đôi khi sự biến mất của một khái niệm, sự vật, hiện tượng quyết định sự tồn tại hay mất đi của một thuật ngữ. Và trong khi chuẩn hoá thuật ngữ phải luôn luôn ý thức rằng đây là một quá trình linh hoạt, mềm dẻo nhằm tạo ra những đơn vị ngôn ngữ hợp lí nhất về nội dung, cũng như hình thức biểu đạt, chứ không phải là áp đặt những quy ước cứng nhắc, bất di bất dịch với các đơn vị đặc biệt này của ngôn ngữ. Vậy nên, các nguyên tắc mà chúng tôi trình bày ở đây cũng là những nguyên tắc đòi hỏi sự áp dụng rất linh hoạt trong xây dựng và chuẩn hoá thuật ngữ khoa học.

Theo chúng tôi, có thể tham khảo những nguyên tắc trên trong quá trình chuẩn hoá thuật ngữ khoa học tiếng Việt, vì thực ra chúng hoàn toàn phù hợp với những gì mà các nhà ngôn ngữ học Việt Nam bàn tới và thực hiện từ trước tới nay.

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn Khang (2000) - “Chuẩn hoá thuật ngữ nhìn từ bối cảnh xã hội”, Tạp chí Ngôn ngữ (1), Hà Nội.

2. Lưu Văn Lăng (1977) - “Về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học”, về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

3. Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu (2002) - Tiếng Việt trên đường phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

4. Nguyễn Như Ý, 1997 - Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

5. Brown R. W. (2003) - Composotion of Scientfic Words, Smithsonian Institution Press, Washingtonand London .

6. Crystal D. (1992) - The Cambrdge Encyclopedia of Language, Cambridge UniversityPress, Cambridgeand New York .

7. Ewer J. R., LatorreG. (1976) - A Course in Basic Scientific English, Long man, London .

8. Flood W. E (1998) - Scientific Words - Their Structure and Meaning, Duell, Sloan and Pearce, New York.

9. HutchinsonT., Water A. (1986) - English for Specific Purposes, Cambridge UniversityPress, Cambridge, New York.

10. Sager J. C. (1990) - A Practical Course in Terminology Processing, John Benjamins Publishing Company, msterdam/ Philadelphia .

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

VUSTA xây dựng đề án vị trí việc làm giai đoạn 2027–2031
Là hội quần chúng được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đang tập trung triển khai việc rà soát vị trí việc làm (VTVL), xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031, nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ (KH&CN).
Tập huấn sử dụng hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ngày 5/11, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Hướng dẫn sử dụng phần mềm trong quản lý và điều hành tác nghiệp văn bản đi và đến. Hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng, khai thác hiệu quả các chức năng của hệ thống số hóa, góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý, điều hành và xử lý văn bản nghiệp vụ tại Cơ quan VUSTA.
Lào Cai: 52 đề tài xuất sắc sẽ được trao giải Cuộc thi lần thứ 21
Chiều 3/11, Ông Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (Hội thi) và Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh (Cuộc thi), chủ trì cuộc họp thống nhất công tác chuẩn bị tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ 21 và phát động Cuộc thi lần thứ 22.
Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.