Thách thức của biến đổi khí hậu đối với chất lượng nước mặt ở Việt Nam
Với hệ thống sông khá lớn khoảng 2.360 con sông có chiều dài lớn hơn 10 km và hệ thống gồm nhiều ao, hồ lớn nhỏ với tổng diện tích 150.000 ha trên toàn lãnh thổ, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tài nguyên nước tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới. Trong những năm gần đây, chất lượng nước ở các sông như sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đồng Nai, sông Thị Vải ngày càng suy giảm trầm trọng, thêm vào đó các hồ, kênh ở các thành phố lớn đều bị ô nhiễm nghiêm trọng. Sự suy thoái chất lượng nước ngày một gia tăng phần lớn là do tác động của con người, tuy nhiên, BĐKH đang và sẽ tiếp tục tác động tới chất lượng nguồn nước. Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá những ảnh hưởng của BĐKH lên chất lượng nước ở Việt Nam . Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi bước đầu nhận định những thách thức của BĐKH lên chất lượng nước mặt ở Việt Nam, tạo cơ sở ban đầu cho những nghiên cứu bảo vệ và cải thiện nguồn nước sau này.
Hiện trạng chất lượng nước mặt ở Việt Nam
Các số liệu quan trắc cho thấy, chất lượng nước mặt đang suy giảm mạnh trên cả nước, đặc biệt là ở sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đồng Nai, sông Thị Vải. Các chỉ tiêu như BOD 5, COD, NH 4, tổng N, tổng P trong nước thường cao hơn tiêu chuẩn cho phép (TCCP) nhiều lần.
Đối với hệ thống sông
Hầu hết các sông ở Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm, đặc biệt là những sông chảy qua các khu vực thành phố lớn, khu vực đô thị, các khu công nghiệp.
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy: Hiện tại, nước của trục sông chính thuộc lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy đã bị ô nhiễm. Đặc biệt, đoạn trên sông Nhuệ, sau khi nước thải sông Tô Lịch đổ vào qua đập Thanh Liệt, nước ô nhiễm trầm trọng.
Sông Cầu: Yếu tố gây ô nhiễm cao nhất là các chất hữu cơ, NO 2và dầu, ô nhiễm nhất là đoạn từ nhà máy Giấy Hoàng Văn Thụ tới cầu Gia Bảy, ôxy hoà tan đạt giá trị thấp nhất (0,4-1,5mg/l), BOD 5, COD rất cao (> 1.000mg/l), Coliform ở một số nơi khá cao, vượt quá TCVN loại A tới hàng chục lần. Hàm lượng NO 2>2,0mg/l và dầu > 5,5mg/l, vượt quá TCVN loại B tới 20 lần.
Chất lượng nước lưu vực các sông ở khu vực phía Nam cũng đang trong tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Nước sông của những con sông chảy qua trung tâm TP. Hồ Chí Minh đều chứa nhiều chất ô nhiễm với nồng độ cao như: các chất hữu cơ, kim loại nặng, dầu mỡ, vi sinh.
Sông Sài Gòn - Đồng Nai: Vùng hạ lưu sông Đồng Nai ô nhiễm hữu cơ chưa cao (DO = 4-6 mg/l, BOD = 4-8 mg/l), nhưng hầu như không đạt TCVN loại A. Ô nhiễm vi sinh và dầu mỡ rõ rệt, nhưng ô nhiễm kim loại nặng, phenol, PCB… chưa vượt TCCP. Chất lượng nước lưu vực sông Sài Gòn ở khu vực phía Nam cũng đang ở mức độ ô nhiễm nghiêm trọng. Các thông số về hữu cơ (DO = 1,5-5,5 mg/l; BOD = 10-30 mg/l), dầu mỡ, vi sinh, không có điểm nào đạt TCVN loại A.
Đối với hệ thống các ao, hồ
Ô nhiễm nước ao, hồ ở nhiều khu vực cả các khu vực nông thôn và thành phố đang ở mức trầm trọng. Các chỉ tiêu quan trắc đều vượt quá TCCP nhiều lần, thậm chí hàng trăm lần. Tại Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương, hệ thống kênh mương đều có các thông số ô nhiễm như chất lơ lửng (SS), BOD; COD vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP. Ở vùng nông thôn, tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật cũng ngày càng cao.
Thách thức của BĐKH đối với chất lượng nước mặt ở Việt Nam
Biến đổi khí hậu có thể làm thay đổi chất lượng nước do sự thay đổi nhiệt độ, thay đổi lượng và phân phối dòng chảy, sự bất thường của bão, lũ, hạn hán hay sự gia tăng xâm nhập mặn
Nhiệt độ tăng
Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên 0,7 0C và sự tăng nhiệt độ có khác nhau giữa các khu vực như ở Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, nhiệt độ trung bình năm tăng lần lượt là 0,8 0c, 0,4 0C, 0,6 0C từ 1991 đến 2000. Theo dự báo của các nhà khoa học, nhiệt độ ở Việt Nam sẽ tăng 1-2 0C vào năm 2050 và 2-3 0C vào năm 2070. Tuy nhiên, nhiệt độ tăng kéo theo nhiều vấn đề về môi trường, trong đó có sự ảnh hưởng tới chất lượng môi trường nước mặt.
Nhiệt độ của nước phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ không khí và hầu hết các quá trình sinh hóa trong nước phụ thuộc vào sự thay đổi của nhiệt độ:
Nhiệt độ nước tăng dẫn đến việc thay đổi phân tầng nhiệt theo chiều sâu cột nước, từ đó làm giảm quá trình vận động của nước. Tăng nhiệt độ nước ở các vùng ven bờ sẽ dẫn đến tăng lắng đọng các chất khoáng và hữu cơ, điều này có thể gây ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn. Từ đó ảnh hưởng trực tiếp lên môi trường sống của các sinh vật thuỷ sinh.
Nhiệt độ nước tăng thúc đẩy quá trình bốc hơi nước nhanh hơn dẫn đến nồng độ các chất ô nhiễm trong các thủy vực tăng lên. Kịch bản trình bày trong thông báo quốc gia đầu tiên đã nhận định rằng, đến năm 2070, ở các vùng ven biển có khả năng tăng thêm 1,5 0C, vùng nội địa 2,5 0C, kéo theo lượng tăng bốc thoát hơi lên khoảng 7,7-8,4%. Các quá trình phân huỷ sinh và hoá học diễn ra nhanh hơn khi nhiệt độ tăng, đặc biệt trong môi trường giàu Nitơ, nhiệt độ cao khuyến khích quá trình tăng trưởng của tảo, đây là nguồn tiêu thụ oxy rất lớn và là nguyên nhân chính gây hiện tượng đầm lầy hóa các thủy vực. Phần khác, do quá trình thoát oxy vào không khí tăng. Sự thiếu oxy trong nước kéo theo các quá trình phân huỷ yếm khí và thiếu khí, kết quả là phát sinh các loại khí độc (CH 4,H 2S), các chất khí này nổi lên mặt nước đồng thời lôi theo các hạt cặn làm giảm khả năng lắng. Thêm vào đó, sự tăng nhiệt độ có thể làm thay đổi thành phần, tính chất và sự phân bố hóa, sinh học trong nước.
Theo chương trình quan trắc chất lượng nước cho 25 hồ và 5 sông ở khu vực Hà Nội vào mùa khô và mùa mưa năm 2005 và 2006 do Viện Công nghệ Môi trường thực hiện, kết quả đã chỉ ra rằng tất cả các thông số COD, BOD 5, SS, kim loại nặng, Coliform ở 25 hồ đều có giá trị vượt quá TCVN và giá trị rất khác nhau giữa hai mùa. Hầu hết là cao hơn nhiều vào mùa khô, có giá trị chênh lệch tới 15 lần giữa hai mùa trong năm.
Gia tăng mức độ và tần suất bão, lụt và hạn hán
Trong 30 năm trở lại đây, số cơn bão ảnh hưởng đến nước ta và mức độ ảnh hưởng cũng có xu hướng tăng rõ rệt. Tần suất lũ lớn có xu hướng tăng, trước đây từ 8-10 năm 1 lần, nay xuống còn 3-4 năm 1 lần (1961, 1966, 1978, 1991) và liên tiếp trong 3 năm lũ lớn liên tục xảy ra (1994-1996). Đặc biệt vào năm 2000 lũ rất lớn. Do ảnh hưởng của BĐKH, số cơn bão trên biển Đông ảnh hưởng đến nước ta cũng ngày càng ít đi, nhưng ngược lại số cơn bão mạnh có chiều hướng tăng lên, mùa bão kết thúc muộn, quỹ đạo của bão trở nên dị thường và số cơn bão ảnh hưởng đến khu vực Nam Trung Bộ, Nam Bộ ngày càng tăng.
Thực tế cho thấy, mức độ tàn phá của bão, lũ là rất lớn, không những gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, mà còn ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước. Nước lũ, nước mưa cuốn theo và hòa tan nhiều loại chất bẩn tích tụ trong suốt những tháng mùa khô như: chất bẩn từ các bãi thu gom, tập kết và xử lý chất thải rắn; công trình xử lý nước thải, hệ thống thoát nước thải bị phá huỷ; phân, rác, nước thải tồn đọng từ các nhà vệ sinh, hệ thống cống rãnh; từ các kho chứa hóa chất, kho chứa thuốc bảo vệ thực vật. Tất cả tạo thành một hỗn hợp nhiều chất ô nhiễm như nồng độ chất dinh dưỡng cao (COD, BOD 5, NH 4+, NO 3-), hàm lượng SS lớn, chứa nhiều thuốc bảo vệ thực vật, dầu mỡ, đặc biệt hàm lượng các vi sinh vật gây bệnh là rất cao và được nước lũ lan truyền trên vùng diện tích rộng lớn.
Kết quả phân tích chất lượng nước tại một số khu vực chịu ảnh hưởng của cơn bão số 5 năm 2007 cho thấy, tại hầu hết các điểm đo đạc, nước sông có dấu hiệu ô nhiễm. Phân tích và so sánh chất lượng nước sông Hoàng Long, tỉnh Ninh Bình trước và sau lũ thấy rằng, nước sông ô nhiễm hơn, một số chỉ tiêu hóa lý phân tích được sau lũ vượt tiêu chuẩn môi trường loại B đối với tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (TCVN 5942-2000). Cụ thể hàm lượng BOD 5cao gấp 1,55 lần tiêu chuẩn, NO 2là 1,4 lần, NO 2là 1,09 lần, COD gấp 1,3 lần, TSS gấp 1,23 lần và hàm lượng Coliform gấp 1,25 lần. Đoạn sông Hoàng Long tại huyện Gia Viễn cho thấy những dấu hiệu ô nhiễm hơn trước lũ (BOD 5cao gấp 1,2 lần, COD là1,4 lần NH 3gấp 1,23 lần). Tại các kênh, mương của các xã vùng lũ chủ yếu dùng để thoát nước, tiếp nhận nguồn nước thải sau lũ, kết quả phân tích cũng cho thấy, các chỉ tiêu như BOD 5, COD, NH 3, Coliform đều cao gấp từ 1,23 đến 1,43 lần tiêu chuẩn môi trường loại B.
Hạn hán cũng diễn biến rất phức tạp, theo dự báo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, tổng lượng mưa trong các tháng tới vẫn tiếp tục thấp hơn trung bình nhiều năm, nhiều vùng hầu như không có mưa. Dự báo tình trạng hạn hán ở Việt Nam có khả năng diễn ra trên diện rộng và kéo dài ở mức gay gắt hơn, nghiêm trọng hơn hạn năm 1998. Bên cạnh đó, hạn hán kéo dài cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng nước mặt. Những khu vực thường xuyên xảy ra hạn hán, mực nước tại các ao, hồ, sông là rất thấp và nồng độ các chất dinh dưỡng, cặn lơ lửng và các loại muối là cao, dẫn đến sự thay đổi vị và mùi của nước. Thêm vào đó, hạn hán là một trong những nguyên nhân làm gia tăng quá trình xâm nhập mặn vào lục địa.
Nước biển dâng
Một nghiên cứu gần đây của Ngân hàng thế giới đã dự báo, Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia bị tác động nặng nề nhất trên thế giới khi nước biển dâng 1m vào năm 2100. Và một nghiên cứu mới nhất của Bộ TNMT cũng cho rằng, mực nước biển dâng tại Việt Nam là 33 cm vào năm 2050; 45cm vào năm 2070 và cuối thế kỷ 21 sẽ là 1m, tương ứng 40.000km 2(12,2%) đất đai sẽ bị ngập. Thêm vào đó, khu vực ven biển miền Trung sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng BĐKH và dâng cao của nước biển. Riêng đồng bằng sông Cửu Long, dự báo vào năm 2030, khoảng 45% diện tích của khu vực này sẽ bị nhiễm mặn cực đại.
Trong những năm gần đây, nhiều khu vực ở Việt Nam đã bị ảnh hưởng bởi hiện tượng xâm nhập mặn, trong đó ĐBSCL là nặng nề nhất. Ước tính có tới 1,8 triệu ha đất đã bị nhiễm mặn và dự báo nếu mực nước biển dâng 1m thì 90% khu vực ĐBSCL sẽ bị ngập. Thêm vào đó, nồng độ muối cao sẽ cản trở các quá trình sinh, hóa học trong nước như tốc độ chuyển hóa thành phần các chất hóa học hay làm giảm khả năng hoạt động của các vi sinh vật cũng như giảm khả năng sinh trưởng, phát triển của hệ sinh vật thủy sinh.
Trước đây, sông Vảm Cỏ Tây mặn thường xâm nhập trên Tuyên Nhơn khoảng 5km. Từ năm 1993 đến nay đã lên đến Vĩnh Hưng, đặc biệt năm 2004 tăng khá mạnh. Trên sông Vàm Cỏ Đông, hiện nay mặn trên sông từ Bến Lức trở lên khá ổn định, ranh giới mặn lớn nhất 2,0g/l đến Xuân Khánh, ranh giới mặn 4,0g/l ở phía dưới cầu An Hạ. Trong thời gian quan trắc 3 năm, giá trị mặn lớn thường vào các tháng từ tháng 1 đến tháng 5, trong đó lớn nhất là vào tháng 4, nước mặn từ biển theo dòng triều xâm nhập vào rất sâu trong sông về phía thượng lưu. Vào các tháng mùa khô, mặn có thể lên đến huyện Đức Hòa với giá trị lớn nhất 3,35g/l.
Các giải pháp thích ứng và ứng phó với BĐKH
Đối mặt với thách thức của BĐKH lên chất lượng nước mặt, Việt Nam cần đưa ra những giải pháp thích ứng và đối phó phù hợp. Dưới đây bao gồm các giải pháp đó, cho trước mắt và cả lâu dài:
Đánh giá nguồn tài nguyên nước và nhận định các nguồn gây suy thoái nguồn nước chính; mức độ ảnh hưởng của BĐKH lên tài nguyên nước;
Khai thác, sử dụng nguồn nước đi đôi với bảo vệ nguồn nước; thực hiện quy hoạch chất lượng nước: xác định mục đích sử dụng, xây dựng và cải tiến các tiêu chuẩn chất lượng nước thích hợp cho từng loại hình sử dụng nước;
Phòng chống ô nhiễm nước: giảm nhu cầu nước một cách hợp lý, sử dụng nước tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả tái sử dụng nước (khử mặn…), xây dựng hệ thống xử lý nước thái…;
Tăng cường các hoạt động nâng cao kỹ thuật và áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong công tác xử lý ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước để thích ứng với BĐKH; tăng cường năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về BĐKH từ địa phương đến trung ương;
Sử dụng các công cụ kinh tế vào quản lý tài nguyên nước như: định giá nước, sử dụng các loại thuế, phí liên quan tới sử dụng và phát thải nguồn nước nhằm nâng cao ý thức trong việc sử dụng (sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hơn) và bảo vệ tài nguyên nước;
Đối với những khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai bão, lụt phải có những chính sách thích ứng thích hợp: cải thiện, nâng cấp và mở rộng các hệ thống cơ sở hạ tầng (hệ thống thoát lũ, tiêu úng…) nhằm ứng phó kịp thời; xây dựng các hồ chứa trước lũ; nâng cấp và mở rộng quy mô các công trình tiêu úng; nâng cấp các hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông hiện có, từng bước xây dựng các tuyến đê mới. Những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề bởi hiện tượng xâm nhập mặn: theo dõi chặt chẽ diễn biến mặn trên toàn đồng bằng và ngay tại địa phương để ó biện pháp phòng chống hiệu quả; tiếp tục nạo vét kênh, mương; sửa chữa bờ bao, cống kiểm soát mặn; đắp đập tạm thời vụ, theo dõi diễn biến mặn để có thể lấy nước khi chưa có mặn; hoàn chỉnh hệ thống đê bao ngăn mặn dọc sông, xây dựng các cống ngăn mặn và lấy nước ngọt; tăng khả năng cấp nước ngọt cho vùng mặn: tăng cường làm ngọt hóa nước mặn (khử mặn); chuyển dịch cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ hợp lý để giảm lượng nước tưới mùa kiệt và thực thi tiết kiệm nước.
Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục về pháp luật, xây dựng tổ chức thanh tra chuyên ngành để nâng cao vai trò của công tác thanh tra pháp chế, xử lý vi phạm trong việc thực thi pháp luật về tài nguyên nước; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền về pháp luật quy định đối với tài nguyên nước; nâng cao được nhận thức, trách nhiệmh tam gia của cộng đồng và phát triển nguồn nhân lực.
Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của quốc tế trong ứng phó với BĐKH để bảo vệ nguồn nước chung./.








