Tết Nguyên đán xứ Nghệ
Tuy nhiên do đời sống kinh tế cũng như những điều kiện tự nhiên, xã hội khác nhau, mỗi vùng trong nước sẽ tổ chức lễ tết này theo cách riêng phù hợp với hoàn cảnh sống của mình. Đó chính là một trong những nếp sống văn hóa của từng vùng miền, hội nhập thành nền văn hóa phong phú, đa dạng của cả dân tộc.
Xứ Nghệ vốn có một truyền thống văn hóa với những bản sắc riêng trong đó có lễ tết. Tuy không thể nói xứ Nghệ là điển hình cho cả miền Trung nhưng do những điều kiện tự nhiên, xã hội có phần giống nhau nên hiểu xứ Nghệ, phần nào chúng ta cũng hiểu được những phong tục của “khúc ruột miền Trung”.
1. Những điều kiện tự nhiên, xã hội hình thành lễ tết xứ Nghệ
Người Nghệ hay người Kinh bất kỳ vùng nào trên đất nước ta đều đón tết chính hàng năm theo lịch âm, lịch được xây dựng theo chu kỳ mặt trăng. Cứ theo chu kỳ này thì ngày cuối cùng trong một năm thường ở vào khoảng giữa hai ngày tiết: đại hàn và lập xuân.
Điều đáng chú ý là dù tiết đại hàn hay lập xuân thì vào tháng chạp ở miền đất Nghệ hay mưa rét, mưa mùa này không to như mưa rào mùa hạ nhưng kéo dài. Tuy nhiên, theo thói quen canh nông cũ, dù rét mướt tháng mười một và tháng chạp, người Nghệ vẫn xuống đồng. Người Nghệ phải cấy xong vụ chiêm trong tiết đại hàn, chậm lắm là đầu lập xuân (tức phải xong trước tết Nguyên đán). Công việc vụ chiêm từ khâu làm mạ đến khi cấy xong phải mất hơn một tháng. Vì vậy người Nghệ đón tết trong hoàn cảnh công việc bộn bề.
Xưa kia, người Nghệ thu hoạch vụ mùa (hay còn gọi là vụ mười) vào khoảng tháng 8 đến đầu tháng 9 âm. Xét về thời tiết lúc này đã qua tiết Bạch lộ, tức là đã qua tiết mưa trắng đồng, thế nhưng do thời tiết xứ Nghệ chậm hơn ngoài Bắc nên vụ gặt ở xứ Nghệ thường vào kỳ mưa lụt. Lụt xứ Nghệ cũng dữ dằn hơn lụt ngoài Bắc. Nếu như ở xứ Bắc dãy Trường Sơn nằm xa biển Đông khiến dưới chân nó là những dòng sông lớn chở nặng phù sa bồi đắp cho những cánh đồng mênh mông trải dài xuống tận biển Đông, thì khi vào đất Nghệ, nhất là vào đất Hà Tĩnh bây giờ, Trường Sơn thò chân ra biển với dãy Hoành Sơn, tạo nên một miền đất hẹp, độ dốc lớn nên mảnh đất này chưa mưa đã lụt, chưa nắng đã hạn. Trong các bài hát tưởng như rất hay của các nhạc sĩ thời nay đã hàm chứa cảnh nghèo nàn của mảnh đất này: “Trời mô xanh bằng trời Can Lộc, nước mô xanh bằng dòng nước sông La...”. Cái trong vắt của dòng sông là bức thông điệp về sự cạn kiệt của lòng đất, cái xanh thẳm của bầu trời cũng là dấu hiệu của những ngày nắng hạn. Hạn to thì mưa lớn, vậy là mùa vụ bấp bênh. Người Nghệ luôn canh cánh nỗi lo ngày giáp hạt, khi “Ngoài đồng vàng mơ, (thì) trong nhà mờ mắt”. Họ chỉ có ước mơ nho nhỏ: “Bao giờ cho đến tháng năm, Nấu nồi cơm nếp vừa nằm vừa ăn. Bao giờ cho đến tháng mười, Nấu nồi cơm nếp vừa cười vừa ăn”. Tháng năm là tháng thu hoạch xong vụ chiêm, tháng mười là tháng thu hoạch xong vụ mùa, vụ mùa lúa ít hơn vụ chiêm. Người Nghệ xưa kia mong chóng đến ngày thu hoạch để được ăn no bởi vì với họ mỗi năm thu hoạch chỉ đủ ăn bảy đến tám tháng, ứng với ba đến bốn tháng cho mỗi vụ thu nhập. Tết âm lịch đến sau ba tháng thu hoạch vụ mùa nên nhiều gia đình người Nghệ ăn tết xong đã thắc thỏm nỗi lo chạy bữa. Xưa kia người Nghệ đón tết trong cảnh dốc bồ.
Như đã nói ở trên, tháng tết và cả tháng trước tết, xứ Nghệ chìm trong mưa dầm. Thời tiết ấy rất khó cho nghề trồng rau. Người Nghệ xưa chỉ trồng chủ yếu hai loại rau là rau muống và rau cải. Mùa rét không có rau muống, vậy chỉ còn rau cải, rau cải lại hay bị lầy, lụi khi mưa dầm. Xứ Nghệ xưa kia không có cải bắp, xu hào, suplơ... như ngoài Bắc. Người Nghệ phải bổ sung rau xanh bằng bí đao, chuối xanh, đu đủ, giá đậu... Vì vậy họ đón tết trong cảnh hiếm rau, mà rau là một thực phẩm quan trọng không kém thịt cá. Hoa quả lại càng hiếm. Người Nghệ đã từng có câu: “Chuối mùa đông mỗi đồng một quả” (Có lẽ phải chú thích thêm rằng một đồng ngày xưa to lắm). Trồng trọt khó khăn thì chăn nuôi cũng không phát đạt. Nguồn thịt ở đây chủ yếu là lợn, gà. Ngoài ra người Nghệ còn mổ trâu bổ sung nguồn thịt tết. Họ có cách chế biến thịt trâu đơn giản nhưng sử dụng cùng với rượu “cuốc lủi” thì ngang tầm dăm bông châu Âu. Thịt trâu nạc súc, được luộc nước lã pha gừng, sau đó luộc lại bằng nước mắm ngon, sôi lăn tăn chừng mười lăm phút rồi vớt ra để khô mặt ngoài. Khi ăn thái lát mỏng (ngang thớ). Thịt trâu thớ thưa, khả năng hấp thụ đạm trong nước mắm rất tốt nên có vị ngọt đậm. Xưa kia người ta cho thịt trâu có tính lạnh, nên những người sức khoẻ yếu không dám ăn, thịt trâu chỉ là thịt cho người nghèo. Còn ngày nay giữa đất Sài Gòn đô hội, thịt trâu là món đặc sản được nhiều người ưa thích.
Người Nghệ xưa thường đón tết trong sự khan hiếm thực phẩm như vậy đó.
Những điều kiện trên đây đã khiến người Nghệ đón tết trong sự đạm bạc về vật chất. Thiên nhiên không ưu đãi, người Nghệ “Quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Xứ Nghệ vì thế ít Lễ, Hội. Đó cũng chính là lý do để người Nghệ phải tập trung ăn tết, dù kinh tế khó khăn đến mấy. Dù gia cảnh ra sao thì “ba ngày tết” cũng phải có bánh chưng chấm mật, thịt mỡ dưa hành, rượu ngon cất từ gạo nếp,.v.v... Người Nghệ ăn tết là chính, hầu như ít chơi xuân như người Bắc. Người Bắc “Chơi Đăm, rước giá, hội Thầy” đã vui rồi, nhưng “Vui là vui vậy chẳng tầy Rã La”. Lễ, Hội của người Kinh trên đất Nghệ tuy cũng có nhưng không nhiều và không to. Với họ “Quanh năm được một rằm tháng bảy, cả thảy được một rằm tháng giêng”. Một năm chỉ có 2 ngày rằm lễ họ hàng, nhưng rằm tháng giêng cận kề ngày tết nên ít nơi tổ chức. Người Nghệ vì thế trọng Tết và trọng giỗ chạp. Câu tục ngữ “Sống tết, chết giỗ” nhắc nhỡ con người biết sống ân nghĩa: ơn ai thì phải đi tết khi họ còn sống, còn khi họ đã qua đời thì phải đến làm giỗ. Tết với người Nghệ cũng là dịp thể hiện nghĩa tình.
2. Tết của người xứ Nghệ nhìn từ góc độ văn hóa
Tảo mộ
Có thể nói, tảo mộ với người Nghệ là một phần trong cúng tết. Đắp điếm lại mồ mả cũng là lúc mời những người đã khuất về cúng tất niên, cúng năm mới.
Việc tảo mộ được tiến hành vào những ngày trước tết (thường là vào các ngày 27, 28 tháng chạp). Người đi tảo mộ là những trai tráng và các bé trai tuổi thiếu nhi, dưới sự dẫn dắt của một vài người có tuổi nhớ hết phần mộ dòng họ mình và am tường gia phả cũng như tiểu sử từng người đã khuất. (Sở dĩ con gái không đi tảo mộ vì chúng sẽ đi lấy chồng). Ở nông thôn xứ Nghệ việc tảo mộ rất quan trọng, nhất là trong những thập kỷ khi có chủ trương qui tập mồ mả về nghĩa địa. Các thế hệ trẻ khác nhau cùng đi tảo mộ để làm quen với phần mộ tổ tiên đồng thời trong quá trình đó người già sẽ kể lại thứ bậc những đức tính, những kỷ niệm về người nằm dưới mộ cho con cháu nghe. Các thế hệ này sẽ có nhiệm vụ truyền lại cho những thế hệ kế tiếp sau nữa. Công việc đó được thực hiện hồn nhiên bằng con đường truyền miệng nhưng hết sức chặt chẽ, nghiêm chỉnh đến mức nghiệt ngã bởi đằng sau nó là sự linh thiêng của tiên tổ. Cho nên ngày nay mặc dầu mồ mả tổ tiên đã được qui tập thành khu vực và phần nhiều đã được xây cất nhưng tục tảo mộ tết Nguyên đán ở đất Nghệ vẫn được giữ nguyên như một truyền thống tốt đẹp bởi với người Nghệ việc tảo mộ không chỉ đơn thuần là dịp sửa sang mồ mả của những người đã khuất mà còn là dịp để con cháu các đời kế tiếp nhau ghi nhớ pho “lịch sử dòng họ” của mình. Cho nên lễ tảo mộ ngày tất niên đã trở thành một trong những nguyên nhân khiến người Nghệ làm ăn xa xứ đâu đâu cũng cố về quê đón tết. Dẫu có ai đó thời trẻ trung mê mãi làm ăn nhiều năm không về tảo mộ tổ tiên thì khi về già tâm sự chẳng mấy thảnh thơi. Kiếp làm cha “ăn mặn” thì đời con về sau phải trả. Con cái họ lại phải lặn lội về quê đôi khi mang theo về cả hài cốt người đã khuất bởi bản di chúc, hoặc một lời trối trăng đã trở thành mệnh lệnh thiêng liêng. Và lăng mộ họ hàng cứ thế được nối dài thêm, còn pho sử dòng họ cũng được bổ sung cả lời quở trách. Dẫu điều kiện ấn loát đã vô cùng thuận lợi thì pho sử ấy vẫn cứ được truyền bằng miệng trên đầu các ngôi mộ, ngày một dài thêm. Tảo mộ tết Nguyên đán với người Nghệ vì thế không giống lễ chơi xuân tiết thanh minh ở những vùng quê khác mà đó là tiết học nhân sinh của muôn đời các thế hệ cháu con.
Cúng tết
Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho nghề canh nông, người xứ Nghệ xưa kia thường thiếu ăn. Họ sống chủ yếu bằng nghề nông mà thu nhập nông nghiệp, như đã nói ở trên, chỉ đủ ăn từ 3 đến 4 tháng cho mỗi vụ. Với họ khủng khiếp nhất là kỳ giáp hạt. Điều đó đã đọng lại trong câu thành ngữ “Ngày ba, tháng tám” (tức vào hai kỳ giáp hạn trong một năm). Đến những kỳ giáp hạt, người Nghệ chỉ biết ăn rau, ăn khoai. Câu tục ngữ “Đói thì ăn rau ăn khoai, chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng” không chỉ là kinh nghiệm mùa màng mà còn là bức tranh buồn về cuộc sống thiếu ăn thường nhật trên mãnh đất này. Cho nên người Nghệ mong mỏi được ăn tết phong lưu. Trong tiếng Nghệ còn lưu lại một lời chào hỏi quen thuộc của người dân vào dịp tết: “Năm nay ăn tết có phong lưu không?”. Người Nghệ xưa, dù đạm bạc, thì ngày giỗ, ngày tết vẫn là những dịp được ăn no hơn, ngon hơn. Từ đó hình thành trong tiếng Nghệ các từ ăn giỗ, ăn tết mà không có các từ chơi xuân, chơi hội như trong tiếng Bắc. Tết của người Nghệ cũng được xem tương đương với giỗ vì tâm linh của họ cũng hướng về tổ tiên. Trong tiếng Nghệ đã từ lâu hình thành cụm từ giỗ chạp. Giỗ đi liền với Chạp (tức Giỗ và Tết ngang nhau). Người Nghệ cúng Chạp (cúng tết) vào các ngày ba mươi, mồng một. Cúng Tết cũng hướng về tổ tiên nhưng khác giỗ. Giỗ làm vào ngày mất của ai đó còn cúng vào ngày Tết là cúng cho mọi người đã khuất. Ngày tết không chỉ phải cúng tại gia mà còn phải cúng ở nhà thờ họ. Nhà thờ họ là nơi thờ tổ tiên, chính xác hơn, là nơi thờ các bậc sinh ra các nhánh họ. Ngoài ra ở đó còn thờ cúng những cô hồn tức những ai chưa lập gia đình, hoặc chưa có con cái đã chết, những ma ranh tức trẻ chết yểu sơ sinh, những đàn ông không có con trai nối dõi tông đường được gọi là người tuyệt tự...
Người Nghệ cúng tết tại gia vào đêm giao thừa, hoặc còn gọi là đêm ba mươi dẫu rằng có năm tháng chạp thiếu, chỉ có 29 ngày. Đêm ba mươi nhà nào cúng, nhà ấy ăn bởi họ sợ đạp đất nhà nhau đầu năm mới. Người Nghệ sợ rằng đến nhà người khác vào ngày đầu năm, nếu năm đó họ làm ăn xui xẻo sẽ bị quở trách. Người ta cũng rất sợ những người nặng vía, những người đàn bà đang trong những ngày không sạch sẽ, đạp đất mồng một tết. Tục này còn được giữ đến tận bây giờ. Rõ ràng trong tâm thức người Nghệ nỗi sợ hãi về cuộc sống bất hạnh luôn luôn đè nặng và trong nỗi sợ hãi đó vẫn loé lên một nét đẹp văn hóa: người ta không muốn mang điều rủi ro đến cho nhau.
Cúng mồng một tết được tiến hành trước hết tại nhà thờ họ, sau đó mới cúng năm mới tại gia. Khác với cúng đêm ba mươi, cúng mồng một thường mời cả họ hàng làng xóm gần gũi. Chính vì nhà nào cũng cúng nên họ thường đi ăn vòng tròn, nghĩa là sau khi ăn nhà này lại sang nhà khác, dĩ nhiên đi ăn theo từng hội để một người ăn không quá ba bốn lượt trong một buổi. Mâm cỗ soạn không có nhiều nên sức ăn mỗi người đủ tải không chỉ một lượt. Trong bữa ăn họ nói chuyện tình làng nghĩa xóm. Tính chất họ hàng làng xã xứ Nghệ vì thế rất sâu nặng.
Người Nghệ thờ cúng tổ tiên là chính, việc thờ cúng thổ thần tuy có nhưng không được tổ chức riêng. Chính vì lẽ đó, người Nghệ thường thờ cúng trong nhà, không thờ cúng ngoài sân (kể cả thắp hương), như ở miền Nam . Tục lệ thờ ngoài sân, thờ giữa nền nhà... có ảnh hưởng vào xứ Nghệ nhưng chỉ mới mấy năm gần đây và chỉ phổ biến trong các nhà buôn bán ở thị thành.
Tết của người Nghệ hướng về tổ tiên nên với người Nghệ không có: “Thanh minh trong tiết tháng ba. Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp thanh” như Nguyễn Du miêu tả, mà việc tảo mộ được họ thực hiện đồng thời với cúng tết.
Chơi tết
Người Nghệ không có điều kiện chơi xuân, nên tết cũng là dịp nghỉ ngơi để trai gái tụ hội vui chơi. Các trò chơi tuy không nhiều nhưng không kém phần vui vẻ. Người Nghệ tổ chức chơi tết bằng các trò đánh đu, đánh cù, đi cầu kiều. Các trò chơi thường có thưởng bằng tiền dù rất ít.
Trò đánh đu được thực hiện bằng hai loại đu. Loại đu xít như ta vẫn thường thấy, chơi hai người (nam và nữ) hoặc một người vẫn chơi được. Người chơi phải đứng, nhún, đu lên cao dần. Loại đu tiên, chơi một lúc nhiều người. Đu này xoay vòng tròn nên phải đủ số người qui định mới chơi được, người chơi ngồi trong gióng. Không rõ vì sao đu này được gọi là đu tiên? Chơi đu khá nguy hiểm, đôi khi vẫn chết người, vả lại việc tổ chức công phu nên không phổ biến như các trò khác. Trò chơi đu một mặt thử thách tinh thần gan dạ của thanh niên, mặt khác là dịp để trai gái vừa thể hiện vẻ đẹp của mình vừa trải nghiệm những cảm giác bâng khuâng trước nhau và trước tầm cao của không trung bao la.
Đánh cù là một loại thể thao. Có lẽ đây là tiền thân của môn bóng ném sau này. Chỉ tiếc trò chơi này đã bị bỏ quên từ lâu. Cách chơi khá đơn giản nhưng yêu cầu người chơi phải nhanh, khoẻ, dũng cảm và mưu trí. Đánh cù được tổ chức rất linh hoạt, có thể theo đội (số lượng mỗi đội không qui định nhưng thường chỉ 3, 4 người, nghĩa là không nhiều lắm để dễ chơi) hoặc theo cá nhân, thậm chí có thể chấp nhau (ít - có khi là một người - đấu với nhiều). “Vận động viên” xưa thường đóng khố, mình trần. Cù là một quả bóng tương đối tròn, thường được đẽo từ một gốc chuối, quả cù không bé hơn quả bóng bây giờ là bao. Sân chơi là một bãi rộng, thường là ruộng mạ sau khi đã nhổ hết mạ đem cấy. Ruộng mạ rộng và bằng phẳng, tuy nhiên mùa đông hay mưa dầm nên loại sân chơi này nhiều khi cũng lầy lội. Ở giữa sân chơi, người ta đào một cái lỗ không to hơn quả cù là mấy để làm “gôn”. Người chơi, bằng mọi cách phải cướp được quả cù thả vào gôn. Khác với đánh đu thường là từng đôi nam nữ, chơi cù chỉ có đàn ông với nhau, phụ nữ chỉ đứng xem. Chơi cù là dịp để lớp trai tráng thể hiện sức khoẻ, sự bền bỉ dẻo dai, nhanh nhẹn, mưu trí... trước đám con gái, đồng thời cũng là để được tiền thưởng.
Đi cầu kiều lại là trò chơi đòi hỏi sự thăng bằng khéo léo. Trò chơi này giống như làm xiếc trên dây. Cầu kiều thường được bắc giữa ao nước nhưng cũng có thể bắc trên cạn, giữa ruộng mạ. Cầu kiều là một cây tre tròn, dài từ 3 đến 4 mét. Đầu trong của cầu gác lên một ống tre tròn trên bờ, đầu còn lại vươn ra hồ được buộc vào một sợi dây treo lên ba cái cọc chụm đầu vào nhau đóng giữa ao. Trên đầu cọc là ngọn cờ thắng lợi và tiền treo giải. Người chơi có nhiệm vụ đi từ trong bờ ra lấy được cây cờ ấy và nhận giải. Cái khó của trò chơi này là ở chỗ cả hai đầu cầu đều không cố định: đầu trong của cầu trượt trên một gốc tre tròn, đầu ngoài đung đưa theo sợi dây. Người đi chỉ cần thiếu thăng bằng một tý là ngã. Bởi thế người đi cầu kiều phải uốn lượn thân người thật dẻo như một nghệ sĩ xiếc. Người đi cầu kiều đa số là con trai vì cầu bắc giữa ao rất dễ bị té xuống nước nên con gái không mấy ai dám tham gia.
Ngoài ba trò chơi phổ biến này, ở xứ Nghệ còn có một số trò chơi khác như trèo cây chuối, đánh còn nhưng tính chất thể thao, văn hóa không cao và không phổ biến. Loại trừ trò đánh đu hầu như có ở nhiều miền quê khác, thì các trò đánh cù, đi cầu kiều là những trò chơi cổ, ít thấy phổ biến ngoài đất Nghệ. Phải chăng đó là tiền thân của môn bóng ném, của nghệ thuật xiếc trong thời hiện đại? Điều đáng tiếc là: do những năm tháng chiến tranh cũng như thói quen cực đoan trong nếp sống “đổi mới văn hóa” của người Nghệ mà những sinh hoạt này không được gìn giữ đến thời nay.
Người Nghệ nặng về cúng tết, ăn tết, còn chơi tết không nhiều. Tuy nhiên trong cả ba hoạt động đó đều có dấu ấn của một vùng văn hóa đặc thù: văn hóa “trại”, sống tự cung tự cấp - có gì dùng nấy, đùm bọc nhau trong khó khăn.
Nguồn: hoidantochoc.org.vn (24/01/06








