Tập đoàn dầu khí Việt Nam trên đà phát triển
Một năm sau ngày thành lập, ngày 25/7/1976, nghành Dầu khí đã phát hiện nguồn khí thiên nhiên đầu tiên tại giếng khoan số 61 ở vùng Trũng Sông Hồng. 5 năm sau, vào tháng 6 năm 1981, dòng khí công nghiệp ở mỏ khí Tiền Hải đã được khai thác đưa vào phục vụ sản xuất; và 10 năm sau ngày thành lập, ngày 26/6/1986, Xí nghiệp Liên Doanh dầu khí Việt - Xô đã khai thác tấn đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ, ghi nhận một dấu mốc quan trọng - Việt Nam đã có tên trong danh sách các nước khai thác và xuất khẩu dầu thô thế giới, khẳng định một tương lai phát triển đầy hứa hẹn cho ngành công nghiệp đất nước. Từ đó đến nay, toàn ngành Dầu khí đã khai được 205 triệu tấn dầu thô và hơn 30 tỷ mét khối khí, mang lại doanh thu trên 40 tỉ USD, nộp ngân sách nhà nước gần 25 tỷ USD, tạo dựng được nguồn vốn chủ sở hữu trên 80 nghìn tỷ đồng. Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác định được trữ lượng dầu khí ước đạt t ừ 3 - 4 tỷ mét khối dầu qui đổi, trừ lượng dầu khí xác minh đạt 1,05 - 1,14 tỷ tấn dầu qui đổi (trong đó trữ lượng tiềm năng về khí thiên nhiên khoảng 60%) có tại trên 60 cấu tạo chứa dầu khí, đã lần lượt đưa 8 mỏ dầu khí có giá trị thương mại vào khai thác. Mục tiêu gia tăng trữ lượng dầu khí trong nhiều năm trở lại gần đây liên tục được hoàn thành với mức từ 30 - 40 triệu tấn dầu qui đổi/năm, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo cân đối bền vững, duy trì ổn định sản lượng dầu khí khai thác phục vụ nền kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước cho thời gian tới.
Từ khi Nhà nước ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam (1988) cho đến nay, ngành Dầu khí đã ký 57 hợp đồng thăm dò khai thác (TDKT) dầu khí, thu hút vốn đầu tư trên 7 tỷ USD, hiện nay 35 hợp đồng đang có hiệu lực. Để thực hiện được mục tiêu đảm bảo cung cấp năng lượng và nhiên liệu cho nền kinh tế, chủ động hội nhập cùng cộng đồng dầu khí quốc tế, những năm gần đây, Tập đoàn Dầu khí đã mở rộng hoạt động thăm dò - khai thác dầu khí ra nước ngoài. Hiện nay, Tập đoàn đang đầu tư 7 dự án ở nước ngoài, trong đó có 2 đề án tự điều hành, đã thu được phát hiện dầu khí quan trọng ở Malaysia , Algieria. Đặc biệt tháng 9/2006, Tập đoàn đã có tấn dầu thô đầu tiên khai thác ở nước ngoài tại mỏ PM 304 ( Malaysia ).
Song song hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác, lĩnh vực công nghệ dầu khí cũng đã được tích cực triển khai. Dòng khí đồng hành của mỏ Bạch Hổ được đưa vào bờ đã mang lại hiệu quả cao đối với nền kinh tế, cung cấp nguyên liệu và năng lượng cho nhà máy điện, đạm Phú Mỹ cùng một khối lượng lớn dầu khí hoá lỏng LPG, condensate cho nhu cầu nội địa. Cùng với nguồn khí đồng hành Bể Cửu Long, nguồn khí Nam Côn Sơn được đưa vào khai thác tiếp đó đã hoàn thiện đưa vào hoạt động cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm ở miền Đông Nam Bộ. Ở miền Tây Nam Bộ, dự án tổ hợp Khí - Điện - Đạm Cà Mau có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng sông Cửu Long đang được khẩn trương thực hiện. Trong tương lai, nhiều mỏ khí mới như lô B, Sư Tử Trắng…sẽ được khai thác và mở ra một giai đoạn mới đầy hứa hẹn của nền công nghiệp khí Việt Nam .
Trong lĩnh vực chế biến khí và hoá dầu, Nhà máy lọc dầu Dung Quất đang được khẩn trương triển khai xây dựng với mục tiêu đưa vào vận hành thương mại năm 2009. Dự án khu liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn và đề án Nhà máy lọc dầu phía Nam đang được chuẩn bị tích cực để sớm đầu tư xây dựng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nguyên liệu cho đất nước và bổ sung cho công nghiệp hoá dầu những nguyên liệu và sản phẩm mới.
Cùng với sự phát triển các lĩnh vực trọng tâm của ngành công nghiệp dầu khí, để khép kín và hoàn chỉnh đồng bộ hoạt động của ngành, các hoạt động dịch vụ kỹ thuật phụ trợ, thương mại, tài chính, bảo hiểm …của ngành dầu khí đã được hình thành và phát triển, doanh số hoạt động ngày càng tăng trong tổng doanh thu của toàn ngành. Thực hiện mục tiêu xây dựng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trở thành tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước, công tác hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý và cơ cấu tổ chức, công tác đổi mới và cổ phần hoá doanh nghiệp đã được triển khai có hiệu quả, hoạt động SXKD của các đơn vị cổ phần hoá được cải thiện rõ rệt hoạt động SXKD của Tập đoàn đang được xác lập theo hướng hiệu quả nhất, phát triển thêm một số lĩnh vực hoạt động mới để tận dụng tiềm nặng thế mạnh của ngành.
Là một ngành kinh tế kỹ thuật yêu cầu công nghệ cao, vốn đầu t ư lớn, có mức độ rủi ro cao, con người luôn là yếu tố quyết định, đặc biệt khi đất nước bước vào giai đoạn hội nhập. Ý thức được điều đó, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã sớm đầu tư xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật, đặc biệt là những cán bộ khoa học và những cán bộ quản lý có trình độ cao. Đến nay Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã có đội ngũ chuyên gia, cán bộ hơn 22 nghìn ngươì đã và đang đảm đương tốt công việc được giao.
Trên chặng đường xây dựng và phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam hơn 30 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân đã luôn quan tâm tạo điều kiện cho ngành dầu khí phát triển… Năm 2006 vừa qua, Bộ Chính trị đã có quyết định số 41-KL-TW ngày 19/01/2006 về phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển ngành Dầu khí Quốc gia Việt đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025 và ngày 29/8/2006 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 198, 199/2006/QĐ-TTg về phê duyệt đề án Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và thành lập công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam bắt đầu một giai đoạn phát triển mới, với một vóc dáng mới. Tự hào và phát huy những thành tích đạt được, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam sẵn sàng vượt qua mọi thách thức, phấn đấu vươn lên không mệt mỏi để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao. Trong giai đoạn đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025, Tập đoàn Dầu khí Việt nam xác định mục tiêu và nhiệm vụ phát triển như sau:
Phát triển ngành Dầu khí Việt Nam trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng, đồng bộ, bao gồm: tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, phân phối, dịch vụ và xuất, nhập khẩu. Xây dựng Tập đoàn Dầu khí mạnh, kinh doanh đa ngành trong nước và quốc tế.
Năm 2007, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam chính thức ra mắt và bắt đầu triển khai hoạt động theo cơ chế vân hành mới “Công ty mẹ - Công ty con”, từng bước hoàn thành các mục tiêu trong chiến lược phát triển được Chính phủ phê duyệt năm 2007, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã đề ra kế hoạch: Khai thác 24,8 triệu tấn dầu khí qui đổi; tiếp tục đẩy mạnh các dự án thăm dò dầu khí trong nước và nước ngoài, phấn đấu ký thêm 6 – 7 hợp đồng dầu khí mới ở các lô còn mở, gia tăng trữ lượng dầu khí từ 35 – 40 triệu tấn qui dầu; đẩy mạnh thi công các công trình trọng điểm của Nhà nước và của ngành; tăng cường phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh (kinh doanh phân phối sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, thương mại, tài chính theo hướng từng bước mở rộng tầm hoạt động ra khu vực và quốc tế; tiếp tục đẩy mạnh công tác đổi mới doanh nghiệp như cổ phần hoá các đơn vị đã được Chính phủ phê duyệt trong cơ cấu Tập đoàn, chuyển đổi một số đơn vị sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con và tiến hành thành lập một số Tổng công ty trực thuộc Tập đoàn; tăng cường hợp tác đầu tư, hợp tác kinh doanh với các tỉnh, thành phố, các tập đoàn kinh tế trong cả nước để góp phần thúc đẩy các địa phương, các ngành cùng phát triển. Thực hiện Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025 Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam sẽ trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nguồn: Biển Việt Nam , 7+8/07, tr 32








