Tại sao các nước nghèo lại nghèo
Năm 2001 Harford có dịp ghé Dualanóng nực, thủ đô Camerun, để từ đó đến thành phố Buea ở trên cao nguyên mát mẻ hơn. Tuy Duala là thành phố lớn với hai triệu dân, nhưng nó lại không có đường xá theo đúng nghĩa của từ này. Giữa các ngôi nhà cách nhau 50m chính là đường đó. Nhưng ở đấy đầy hàng rong, những nhóm người chơi bài, uống bia, thổi nấu, sinh hoạt thoải mái. Và chính giữa là những hàng ổ gà to đùng như ổ voi, có lẽ đó chính là con đường mà trước đó trên 20 năm có tồn tại. Trước đây ở Duala cũng có xe buýt, nhưng từ khi đường xá xuống cấp như vậy thì không có xe nào chạy nổi, trừ các xe taxi, sơn vàng hệt như taxi New York , nhưng chỉ là những chiếc xe Nhật cũ nát, đầy vết xước, vết bẹp. Dĩ nhiên ai thấy cảnh đó cũng nhận ra ngay rằng Camerun nghèo: mức sống người dân chỉ bằng phần tám mức trung bình thế giới, và phần năm mươi nếu so với mức sống trung bình của người dân nước Mỹ. Không phải người dân Camerun thiếu đầu óc sáng tạo trong kinh doanh, trong nỗ lực xây dựng đất nước, nhưng nghèo thì vẫn hoàn nghèo. Như nhà kinh tế học, giải thưởng Nobel Robert Lucas phát biểu: “Hệ quả của việc trả lời các câu hỏi như thế hết sức vĩ đại: Nếu ta bắt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc về vấn đề đó, thì sau đó khó mà suy nghĩ về các vấn đề khác được”. Các nhà kinh tế học đều thống nhất với quan điểm cho rằng, giàu sang là kết quả của sự kết hợp của các nguồn của cải do con người tạo ra như đường xá, nhà máy, mạng lưới điện thoại, các nguồn tài nguyên con người như sức lao động chăm chỉ, giáo dục và đào tạo, và các nguồn tài nguyên công nghệ như tri thức kỹ thuật hay đơn giản là các máy móc công nghệ cao. Rõ ràng là các nước nghèo trở nên giàu nhờ đã đầu tư tiền của vào các nguồn tài nguyên vật chất, và các các nguồn tài nguyên con người và công nghệ đã được cải thiện qua giáo dục và đào tạo và cac chương trình chuyển giao công nghệ.
Điều đó đúng, vì ba thứ kể trên không thiếu ở các nước giàu. Nhưng bức tranh còn chưa hoàn chỉnh, như một hình xếp bởi các mảnh mà mảnh quan trọng nhất lại bị thiếu mất. Lẽ ra các nước nghèo đã phải đuổi kịp các nước giàu trong một trăm năm qua, và càng nhanh hơn nếu khoảng cách càng xa, bởi lẽ nếu một nước càng kém về hạ tầng cơ sở hay giáo dục và đào tạo thì việc đầu tư càng hiệu quả hơn. Ví dụ rõ nhất là Trung Quốc, Đài Loan và Nam Hàn, nếu chưa kể đến Ấn Độ, Chilê và Singapour. Trước đây đó là các nước nghèo rớt mùng tơi, thiếu cả ba nguồn tài nguyên, nay đó là những nước có độ tăng trưởng cao nhất, chứ không phải Nhật Bản, Hoa Kỳ hay Thuỵ Sĩ.
Lẽ ra các nhà kinh tế học phải giả thiết điều đó cho mọi nước đang phát triển, bởi vì công nghệ dễ chuyển giao và ngày càng rẻ hơn, và ở một thế giới mà sản lượng ngày càng giảm, thì các nước nghèo nhất càng được hưởng lợi nhiều từ công nghệ mới, hạ tầng cơ sở, giáo dục và đào tạo. Chẳng hạn Nam Hàn đã nhập công nghệ từ việc khuyến khích đầu tư hay mua bản quyền phát minh sáng chế, và ngoài tiền bán bản quyền, lợi tức của các công ty nước ngoài cũng được chuyển về nước mẹ. Nhưng lãi dưới dạng tăng trưởng kinh tế đối với người công nhân và nhà doanh nghiệp Nam Hàn lớn gẩp năm mươi lần tiền bán bản quyền và lợi tức của các công ty nước ngoài chảy về những nước đó.
Vì trong trường hợp giáo dục và đào tạo và hạ tầng cơ sở đều có vẻ mang nhiều lợi nên lẽ ra không thiếu nhà đầu tư sẵn sàng bỏ vốn vào cho các dự án đó, và các nước sở tại chỉ cần làm sao đủ thuyết phục họ là họ sẽ không gặp khó khăn khi thu hồi vốn. Nếu vì lý do nào đó mà điều này không xảy ra thì cũng đã có WB làm việc đó. Thế nhưng nhà độc tài P. Biya lên làm tổng thống từ 1982 cùng bộ máy của ông ta tham nhũng quá nhiều. Theo Tổ chức Transparency International-Minh bạch Quốc tế,Camerun là một trong những nước tham nhũng nhất thế giới. Tuỳ cách nhìn của mỗi người, các nhà chính trị hoặc cố gắng hết sức chăm lo cho đất nước và nhân dân mình, hoặc chỉ lo làm sao giữ yên ghế của họ cho đến nhiệm kỳ sau. Nhà kinh tế học Mancur Olson nêu giả thiết rằng, mục tiêu của các chính phủ thậm chí còn mù mịt hơn thế và đặt ra lý thuyết: đối với tỷ lệ tăng trưởng thì các thể chế dân chủ hay hơn các chế độ độc tài, nhưng dẫu sao các chế độ này cũng vẫn tốt hơn là hỗn loạn thuần tuý.
Olson cho rằng các chính phủ tại những nước đó là lũ cướp, có một lúc nào đó xuất hiện với vũ khí trong tay để cướp hết của dân. Điều đó được chứng minh ngay nếu chỉ quan sát 5 phút ở Camerun. Trước tiên là cảnh sát rồi sau đó tới tất cả các dạng chức sắc khác. Dĩ nhiên một thể chế độc tài dù được bầu, vẫn tốt hơn là hết cuộc đảo chính này sang cuộc đảo chính khác. Nếu như một nhà tư bản đầu tư vào Camerun với lợi nhuận 10%/năm, có vẻ hấp dẫn, nhưng một nửa trong số đó phải chui vào túi tổng thống Biya, và như vậy không đủ hấp dẫn anh ta, cơ hội đã bị bỏ lỡ.
Khi kẻ cướp lọt vào chính phủ thì việc điều hành dĩ nhiên bị tê liệt. Các “thể chế” chỉ là rào cản công việc. Sau khi WB phát hiện, ở Êtôpia một nhà đầu tư phải chờ 4 năm nuôi bộ máy này thì mới đầu tư vào được (thành lập công ty), chính phủ nước này đã gỡ bỏ những quy định như vậy, và số các công ty xin đăng ký kinh doanh tăng ngay 50%. Càng ngày càng rõ là các cơ chế loạn chức năng – dysfonctionallà một chiếc chìa khoá giải thích sự nghèo đói.
Điều đó cũng được chứng minh khi tác giả tới thăm thư viện một trường tư tại Buea. Ngôi nhà ba tầng to lớn có mái cong như nhà hát Sydney nhưng không hoạt động được vì ngay khi xây xong đã dột, sách vẫn để trong ngôi nhà cũ. Vị hiệu trưởng, đồng thời là quan chức thuộc đảng cầm quyền, cho xây chỉ vì muốn chứng minh trường trung học này đang phấn đấu lên thành đại học.
Khi tiền của trong mạng lưới xã hội, ở đây là giáo dục, được dùng chỉ vì mục đích phù phiếm chứ không phải sử dụng, và việc đó không có ai kiểm soát được, thì nó càng chứng minh, khi những người tư lợi và nhiều tham vọng cầm quyền, đó là một trong những thảm hoạ cho sự lãng phí ở các nước đang phát triển.
Các chuyên gia đều thấy giáo dục là quan trọng. Nhưng đó mới chỉ là một mặt. Khi các nhà kinh tế học lập thống kê thu nhập của người Camerun ở trong nước và người Camerun đang sống ở Mỹ thì thấy rằng, giáo dục và đào tạo, hạ tầng cơ sở mới chỉ là phần đầu của lời giải cho sự khác biệt giữa nước giàu và nước nghèo. Vì hệ thống giáo dục và đào tạo kém nên mức sống người Camerun chỉ bằng nửa Mỹ. Vì hạ tầng cơ sở kém thì tỷ lệ này giảm một nửa nữa, nếu vậy tổng sẽ là một phần tư. Nhưng Camerun kém Mỹ năm mươi lần.
Tại sao người Camerun không làm gì đó để cải thiện, để cải tiến hệ thống giáo dục và đào tạo, các nhà kinh doanh Camerun không xây các nhà máy và kêu gọi đầu tư? Giới chức các nước nghèo không quan tâm tới tăng trưởng của nước mình. Một tên kẻ cướp làm tổng thống chưa chắc đã là thảm hoạ cho đất nước. Hắn vẫn cần phát triển kinh tế để hưởng lợi từ đó. Chỉ khi cướp bóc thành phổ biến vì bản thân hắn không hiểu còn được cai trị bao lâu nữa, nên càng cho cấp dưới cướp bóc để duy trì thể chế đó, khi sự thối nát ở ngay trong chính phủ, đó mới là thảm hoạ. Sẽ không còn ai quan tâm tới việc làm một việc gì có ích nữa, vì có muốn cũng chẳng được.
Việc tham nhũng và đầu tư sai có hệ quả ra sao, chẳng có gì là mới. Điều mới là vấn đề các quy định và thể chế contraproductive-chống sinh lợikhông chỉ thể hiện một phần nhỏ khoảng cách giữa Camerun và các nước giàu, mà gần như toàn bộ khoảng cách này. Những nước như Camerun sống rất thấp dưới mức độ khả năng của họ, ngay khi ta đã lưu ý tới hạ tầng cơ sở kém, đầu tư thấp, giáo dục và đào tạo
yếu. Điều còn nguy hiểm hơn là hệ thống tham nhũng ngăn chặn mọi nỗ lực cải thiện hạ tầng cơ sở, kích thích đầu tư và gia tăng chất lượng giáo dục và đào tạo.
Vẫn chưa tìm ra từ thích hợp để mô tả điều mà các nước nghèo thiếu. Nhưng người ta đang bắt đầu hiểu ra. Có người gọi đó là các tài nguyên hay vốn hay “nguồn tư bản xã hội”. Người khác gọi là “niềm tin”, hay “nhà nước pháp quyền”, hay chỉ đơn giản là “các thể chế”. Nhưng đó chỉ là các etiquette-nhãn, quy ước. Camerun và các nước nghèo khác là một thế giới đảo ngược. Ở đó lợi ích của số đông là hành động để qua đó trực tiếp làm hại mình và gián tiếp làm hại mọi người khác. Kích thích tạo ra của cải bị đảo lộn.
Nguồn: Merkur, Khoa học Tổ quốc, 01/01/2007








