Tai biến do dùng Oresol không đúng cách
Vai trò của ORS
Tiêu chảy cấp tạo nên trạng thái mất nước và các chất điện giải, rất nguy hiểm. Trẻ bị tiêu chảy cấp, mất nước nhẹ là dạng mất dịch đẳng trương. Vì vậy cho trẻ uống ORS là bù dịch đẳng trương.
Gói ORS gồm có 3,5 gam natri chlorid, 2,5 gam natri bicarbonat (hay 2,9 gam natri cirat), 1,5 gam kali chlorid, 20 gam clucose. Khi hoà tan cả gói trong vừa đủ 1 lít nước đã đun sôi để nguội sẽ có dung dịch ORS đẳng trương. Dùng dung dịch ORS cho bệnh nhân tùy theo tình trạng tiêu chảy mất nước nhiều hay ít.
Ngộ độc ORS
Một số bà mẹ đã san từng ít bột ORS ra bát ăn cơm, cho vào từng ít nước một, rồi lấy dung dịch ORS ra dùng dần; lại có một số bà mẹ cho cả gói ORS vào trong chai nước khoáng 500ml lắc đều. Trong cách pha đầu, dụng cụ đong, lượng bột ORS, nước cho vào từng lúc đều không chính xác. Nếu không đủ lượng nước sẽ tạo dung dịch đậm đặc hơn, gọi là ưu trương; ngược lại, thừa nước, dịch sẽ loãng hơn hay còn gọi là nhược trương, không có tác dụng. Khi cho trẻ dùng dung dịch ưu trương, cơ thể sẽ hấp thu nhiều muối, ít nước nên sẽ có cảm giác khát. Thấy vậy bà mẹ lại tiếp tục cho uống. Trẻ từ trạng thái mất dịch đẳng trương, chuyển sang thừa dung dịch muối ưu trương, rối loạn thừa muối rất nguy hiểm.
Khi thừa muối, có sự tăng áp lực thẩm thấu máu. Cơ thể sẽ tự điều chỉnh bù trừ bằng cách: tăng tiết hormon ADH để giữ nước (tăng tái hấp thu nước ở ống thận, tăng cảm giác khát, kích thích uống nước); chuyển dịch nước từ trong ra ngoài tế bào, làm mất dịch nội bào, đào thải bớt một số phân tử có tính thẩm thấu ra ngoài tế bào nhằm duy trì cân bằng động giữa hai phía màng tế bào. Tuy nhiên, nếu sự tăng áp lực thẩm thấu máu quá cao (do nhiễm muối quá đậm đặc) và phản ứng tự điều chỉnh quá muộn thì sẽ gây tổn thương các mô, đặc biệt là mô não. Riêng tại não, có một cơ chế đặc biệt: tự sinh ra các thành phần có tính thẩm thấu bên trong tế bào để có thể giảm bớt sự mất cân bằng áp lực thẩm thấu ở hai phía màng tế bào thần kinh. Nhờ cơ chế này mà tế bào thần kinh não được bảo vệ tốt hơn. Tuy nhiên, cũng do cơ chế này, khi áp lực thẩm thấu máu tăng quá nhanh, trong khi môi trường nội bào của tế bào thần kinh vẫn ở trong tình trạng thẩm thấu cao hơn (hơn các loại tế bào khác) nước từ ngoài sẽ tràn vào não gây phù não.
Ngộ độc do dùng thừa dung dịch ORS đậm đặc thường có các biểu hiện như sau:
- Sốt cao, đi ngoài nhiều lần gọi là tiêu chảy ưu trương.
- Khát dữ dội, môi nứt nẻ, đòi uống (trong tiêu chảy cấp mất nước lúc đầu thường có khát nhưng không dữ dội bằng).
- Mắt trũng, da khô, khóc không có nước mắt, véo vào da vết véo mất rất nhanh, nước tiểu rất ít, hay không có nước tiểu.
- Ngủ gà xen lẫn với những cơn kích thích vật vã, quấy khóc dữ dội. Tăng trương lực cơ toàn thân, rung giật cơ chân tay mặt từng cơn ngắn, phản xạ gân xương tăng nhẹ, xuất hiện cơn co giật toàn thân, dùng Seduxen có thể cắt cơn co giật nhưng tái phát lại ngay (các triệu chứng thần kinh).
- Rối loạn nhịp thở, hôn mê sâu, phù não cấp (triệu chứng nặng, đe dọa tính mạng).
- Xét nghiệm sẽ thấy các chỉ số chất điện giải tăng cao hơn mức ở trẻ bình thường: natri máu 168 – 179mmol/lit, kali máu 4,7 – 5,1mmol/lit, chlorid máu 123mmol/lit.
Cách phòng chống
Các bà mẹ cần hiểu rõcách điều trị bệnh tiêu chảy cấp mất nước bằng ORS.
- Tại gia đình, trước khi pha thuốc cho trẻ uống người mẹ cần đọc thật kỹ và làm đúng theo hướng dẫn cách pha cũng như cách bảo quản thuốc. Có thể dùng viên nén Oresol 3,17g, chỉ cần hòa 1 viên 1 một ly 200ml nước chín để uống sau mỗi lần tiêu chảy cho tiện.
- Tại bệnh viện, nhân viên y tế có thể hướng dẫn, tạo điều kiện cho các bà mẹ biết phaORS: Có dụng cụ có vạch dung tích 1.000ml, có nước đun sôi để nguội sẵn. Nếu không có các thứ trên có thể cho cả gói ORS vào chai nước tinh khiết 1.000ml lắc mạnh cho tan hết.








