Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 29/08/2014 15:15 (GMT+7)

Tác dụng của chế phẩm EM trong xử lý ô nhiễm môi trường

  Có thể coi vi sinh vật hữu hiệu EM như là một chất nhằm tăng cường tính đa dạng của sinh vật trong đất, bổ sung các vi sinh vật có ích vào môi trường tự nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các vi sinh vật có hại gây ra. Sử dụng chế phẩm sinh học EM sẽ góp phần cải thiện chất lượng đất, phòng chống các bệnh do các vi sinh vật có hại gây ra đối với cây trồng, vật nuôi và tăng cường tính hiệu quả của các chất hữu cơ.

Chế phẩm EM có khoảng 80-120 loài vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí thuộc 10 chi khác nhau, bao gồm: Các vi khuẩn quang hợp tổng hợp chất hữu cơ từ CO 2 và H 2O, vi khuẩn cố định Nitơ (sử dụng các hợp chất Nitơ), vi khuẩn Lactic (chuyển hoá thức ăn khó tiêu thành thức ăn dễ tiêu), nấm men (sản sinh ra các Vitamin và các Axit amin). Các vi sinh vật trong chế phẩm EM tạo ra một hệ sinh thái nhỏ, chúng liên kết, hỗ trợ lẫn nhau cùng sinh trưởng và phát triển, tạo thành nhiều sản phẩm khác nhau. Chế phẩm EM được điều chế ở dạng nước và dạng bột (dạng nước gọi là dung dịch EM, dạng bột gọi là EM - Bogasi).

Thông thường có các loại EM sau:

- EM1 là dung dịch EM gốc, chủ yếu để điều chế các dạng EM khác;

- EM thứ cấp là dung dịch EM có tác dụng phân giải các chất hữu cơ, khử trùng, làm sạch môi trường, cải thiện tính chất hoá lý của đất, tăng trưởng vật nuôi, chống quá trình Ôxy hoá;

- EM5 là dung dịch EM có tác dụng hạn chế, phòng ngừa sâu bệnh, tăng cường khả năng đề kháng và tăng trưởng của cây trồng;

- EM FPE (gọi là EM thực vật) là dung dịch EM có tác dụng kích thích sinh trưởng, tăng năng suất và chất lượng cây trồng.

EM - Bokasi có nhiều loại như Bokasi cám, Bokasi phân gia súc, Bokasi rơm rạ, Bokasi rác, Bokasi tổng hợp...

Tác dụng chủ yếu của EM:

- Thúc đẩy quá trình phân giải chất hữu cơ, thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh vật có ích trong đất, hạn chế hoạt động của vi sinh vật có hại, làm giàu thêm hệ vi sinh vật tự nhiên...; qua đó góp phần cải tạo đất, nâng cao độ phì nhiêu của đất một cách bền vững, tăng nguồn dinh dưỡng để hấp thụ cho cây trồng;

- Làm giảm mùi hôi thối, khử trùng, giảm các chất độc hại và ruồi muỗi trong môi trường; do đó có tác dụng làm sạch môi trường, nhất là môi trường nông thôn;

- Làm tăng cường khả năng quang hợp, thúc đẩy sự nảy mầm, ra hoa kết quả của của cây trồng; hạn chế, phòng ngừa dịch bệnh, kích thích sự phát triển của cây trồng và vật nuôi; qua đó góp phần tăng năng suất và chất lượng của cây trồng, vật nuôi.

Do đó EM có thể sử dụng rất rộng rãi trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, làm sạch môi trường; góp phần quan trọng hạn chế sử dụng hoá chất độc hại trong nông nghiệp, tạo lập sự bền vững cho nông nghiệp và môi trường; góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

Trong việc bảo vệ môi trường, chế phẩm EM thường được sử dụng:

1. Khử mùi chuồng gia súc: Dùng 20 – 30ml EM hòa vào 8 lít nước sạch phun trực tiếp vào chuồng trại, cách 7 ngày phun 1 lần.

2. Dùng EM thức cấp để khử mùi hố tiêu: Hố tiêu của gia đình nông dân, một mét khối dùng khoảng 30-50 ml (cc) EM đổ trên mặt hố, sau 3 ngày phun lần 2, sau đó cứ 7-10 ngày phun một lần.

3. Dùng EM để xử lý rác sinh hoạt tại gia đình:

a. Nguyên tắc chung:

- Hàng ngày rác sinh hoạt trong gia đình được phân loại làm 2 loại: Rác hữu cơ và rác vô cơ; mỗi loại được thu gom và cho vào thùng hoặc bao riêng.

- Rác hữu cơ (chế phẩm rau thừa, thức ăn thừa, vỏ hoa quả...) được cho vào thùng chuyên dụng để xử lý cùng với EM. Trong quá trình thu gom và xử lý không phát sinh mùi hôi mới đạt yêu cầu.

- Rác càng nhỏ càng tốt, rắc Bokashi và phun EM càng đều càng tốt.

b. Quy trình xử lý:

- Thùng rác có dung tích 25 lít, 22 lít, 15 lít có vỉ đỡ rác, có vòi tháo nước rác. Trước khi bỏ rác vào thì rắc đều một lượt Bokashi cám vào đáy thùng khoảng 40g (gần 2/3 nắm tay), rắc đều lên vỉ rác khoảng 20g Bokashi.

- Tất cả rác hữu cơ đều có thể bỏ vào thùng, nên cắt băm rác nhỏ, vắt bớt nước rồi bỏ vào thùng; rác trong thùng được san đều rồi rắc gần kín mặt một lớp Bokashi mỏng rồi dùng thìa hoặc tay ấn chặt xuống. Nếu rác ít thì mỗi ngày xử lý một lần, nếu rác nhiều có thể mỗi ngày xử lý 2 lần vào sau 2 bữa ăn trưa và tối.

- Nếu nước rác nhiều thì mở vòi cho nước rác chảy ra (nguyên tắc là không được để nước rác đầy đến vỉ rác), đổ vào toa-let hoặc cống rãnh để khử mùi hôi hoặc pha loãng 1.000 lần với nước sạch tưới cho cây.

- Thể tích rác trong thùng sẽ ngót rất nhiều. Liên tục thu gom xử lý rác trong 5-10 ngày đến khi rác gần đầy thùng (cách miệng thùng khoảng 5cm) đem rác chôn xuống đất ở trong vườn để ủ thành phân mùn hoặc bón trực tiếp cho cây trồng.

- Trong trường hợp không sử dụng cho vườn của gia đình, tổ chức thu gom rác xử lý tập trung, tiếp tục ủ kỵ khí 3-4 tuần để rác phân huỷ hoàn toàn rồi đem bón cho cây trồng như rau, cây ăn quả...

- Để đảm bảo xử lý rác được tốt, hàng ngày cùng với rắc Bokashi có thể vẩy thêm 1 lượt dung dịch EM bằng cách lấy 1-2 nắp lọ dung dịch EM rồi pha loãng trong nước với tỷ lệ 1/50-1/100 và vẩy đều khắp trên mặt khối rác.

- Trong những ngày rác ở trong thùng, nếu phát hiện có mùi hôi thì lập tức rắc Bokashi và dung dịch EM lên bề mặt khối rác để áp chế mùi hôi. Nếu nước rác có mùi hôi thì cho vào đáy thùng một ít Bokashi và dung dịch EM, hoặc chỉ bằng dung dịch EM (2-3 nắp lọ dung dịch pha loãng 3-4 lần).

Ngọc Nga (tổng hợp)Có thể coi vi sinh vật hữu hiệu EM như là một chất nhằm tăng cường tính đa dạng của sinh vật trong đất, bổ sung các vi sinh vật có ích vào môi trường tự nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các vi sinh vật có hại gây ra. Sử dụng chế phẩm sinh học EM sẽ góp phần cải thiện chất lượng đất, phòng chống các bệnh do các vi sinh vật có hại gây ra đối với cây trồng, vật nuôi và tăng cường tính hiệu quả của các chất hữu cơ.

Chế phẩm EM có khoảng 80-120 loài vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí thuộc 10 chi khác nhau, bao gồm: Các vi khuẩn quang hợp tổng hợp chất hữu cơ từ CO 2 và H 2O, vi khuẩn cố định Nitơ (sử dụng các hợp chất Nitơ), vi khuẩn Lactic (chuyển hoá thức ăn khó tiêu thành thức ăn dễ tiêu), nấm men (sản sinh ra các Vitamin và các Axit amin). Các vi sinh vật trong chế phẩm EM tạo ra một hệ sinh thái nhỏ, chúng liên kết, hỗ trợ lẫn nhau cùng sinh trưởng và phát triển, tạo thành nhiều sản phẩm khác nhau. Chế phẩm EM được điều chế ở dạng nước và dạng bột (dạng nước gọi là dung dịch EM, dạng bột gọi là EM - Bogasi).

Thông thường có các loại EM sau:

- EM1 là dung dịch EM gốc, chủ yếu để điều chế các dạng EM khác;

- EM thứ cấp là dung dịch EM có tác dụng phân giải các chất hữu cơ, khử trùng, làm sạch môi trường, cải thiện tính chất hoá lý của đất, tăng trưởng vật nuôi, chống quá trình Ôxy hoá;

- EM5 là dung dịch EM có tác dụng hạn chế, phòng ngừa sâu bệnh, tăng cường khả năng đề kháng và tăng trưởng của cây trồng;

- EM FPE (gọi là EM thực vật) là dung dịch EM có tác dụng kích thích sinh trưởng, tăng năng suất và chất lượng cây trồng.

EM - Bokasi có nhiều loại như Bokasi cám, Bokasi phân gia súc, Bokasi rơm rạ, Bokasi rác, Bokasi tổng hợp...

Tác dụng chủ yếu của EM:

- Thúc đẩy quá trình phân giải chất hữu cơ, thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh vật có ích trong đất, hạn chế hoạt động của vi sinh vật có hại, làm giàu thêm hệ vi sinh vật tự nhiên...; qua đó góp phần cải tạo đất, nâng cao độ phì nhiêu của đất một cách bền vững, tăng nguồn dinh dưỡng để hấp thụ cho cây trồng;

- Làm giảm mùi hôi thối, khử trùng, giảm các chất độc hại và ruồi muỗi trong môi trường; do đó có tác dụng làm sạch môi trường, nhất là môi trường nông thôn;

- Làm tăng cường khả năng quang hợp, thúc đẩy sự nảy mầm, ra hoa kết quả của của cây trồng; hạn chế, phòng ngừa dịch bệnh, kích thích sự phát triển của cây trồng và vật nuôi; qua đó góp phần tăng năng suất và chất lượng của cây trồng, vật nuôi.

Do đó EM có thể sử dụng rất rộng rãi trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, làm sạch môi trường; góp phần quan trọng hạn chế sử dụng hoá chất độc hại trong nông nghiệp, tạo lập sự bền vững cho nông nghiệp và môi trường; góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

Trong việc bảo vệ môi trường, chế phẩm EM thường được sử dụng:

1. Khử mùi chuồng gia súc: Dùng 20 – 30ml EM hòa vào 8 lít nước sạch phun trực tiếp vào chuồng trại, cách 7 ngày phun 1 lần.

2. Dùng EM thức cấp để khử mùi hố tiêu: Hố tiêu của gia đình nông dân, một mét khối dùng khoảng 30-50 ml (cc) EM đổ trên mặt hố, sau 3 ngày phun lần 2, sau đó cứ 7-10 ngày phun một lần.

3. Dùng EM để xử lý rác sinh hoạt tại gia đình:

a. Nguyên tắc chung:

- Hàng ngày rác sinh hoạt trong gia đình được phân loại làm 2 loại: Rác hữu cơ và rác vô cơ; mỗi loại được thu gom và cho vào thùng hoặc bao riêng.

- Rác hữu cơ (chế phẩm rau thừa, thức ăn thừa, vỏ hoa quả...) được cho vào thùng chuyên dụng để xử lý cùng với EM. Trong quá trình thu gom và xử lý không phát sinh mùi hôi mới đạt yêu cầu.

- Rác càng nhỏ càng tốt, rắc Bokashi và phun EM càng đều càng tốt.

b. Quy trình xử lý:

- Thùng rác có dung tích 25 lít, 22 lít, 15 lít có vỉ đỡ rác, có vòi tháo nước rác. Trước khi bỏ rác vào thì rắc đều một lượt Bokashi cám vào đáy thùng khoảng 40g (gần 2/3 nắm tay), rắc đều lên vỉ rác khoảng 20g Bokashi.

- Tất cả rác hữu cơ đều có thể bỏ vào thùng, nên cắt băm rác nhỏ, vắt bớt nước rồi bỏ vào thùng; rác trong thùng được san đều rồi rắc gần kín mặt một lớp Bokashi mỏng rồi dùng thìa hoặc tay ấn chặt xuống. Nếu rác ít thì mỗi ngày xử lý một lần, nếu rác nhiều có thể mỗi ngày xử lý 2 lần vào sau 2 bữa ăn trưa và tối.

- Nếu nước rác nhiều thì mở vòi cho nước rác chảy ra (nguyên tắc là không được để nước rác đầy đến vỉ rác), đổ vào toa-let hoặc cống rãnh để khử mùi hôi hoặc pha loãng 1.000 lần với nước sạch tưới cho cây.

- Thể tích rác trong thùng sẽ ngót rất nhiều. Liên tục thu gom xử lý rác trong 5-10 ngày đến khi rác gần đầy thùng (cách miệng thùng khoảng 5cm) đem rác chôn xuống đất ở trong vườn để ủ thành phân mùn hoặc bón trực tiếp cho cây trồng.

- Trong trường hợp không sử dụng cho vườn của gia đình, tổ chức thu gom rác xử lý tập trung, tiếp tục ủ kỵ khí 3-4 tuần để rác phân huỷ hoàn toàn rồi đem bón cho cây trồng như rau, cây ăn quả...

- Để đảm bảo xử lý rác được tốt, hàng ngày cùng với rắc Bokashi có thể vẩy thêm 1 lượt dung dịch EM bằng cách lấy 1-2 nắp lọ dung dịch EM rồi pha loãng trong nước với tỷ lệ 1/50-1/100 và vẩy đều khắp trên mặt khối rác.

- Trong những ngày rác ở trong thùng, nếu phát hiện có mùi hôi thì lập tức rắc Bokashi và dung dịch EM lên bề mặt khối rác để áp chế mùi hôi. Nếu nước rác có mùi hôi thì cho vào đáy thùng một ít Bokashi và dung dịch EM, hoặc chỉ bằng dung dịch EM (2-3 nắp lọ dung dịch pha loãng 3-4 lần).

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.