Tác động của biến đổi khí hậu đối với vùng ven bờ biển Việt Nam và biện pháp thích ứng
Với kịch bản này, nó sẽ gây ra những tác động cực kỳ nghiêm tọng. Với khuôn khổ có hạn, bài báo này chỉ phân tích, đánh giá tác động của mực nước biển đến một số lĩnh vực như đất đai, dân số, đô thị, nông nghiệp, vùng đất trũng ở dải ven biển Việt Nam, và cũng như tác động của xâm nhập mặn. Bài báo cũng nêu ra những biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu.
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã công bố báo cáo Phát triển con người 2007 – 2008 ở 100 nước trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Với chủ đề “Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách”.
Báo cáo lần thứ 4 của IPCC, 2007 (Uỷ ban Quốc tế về biến đổi khí hậu) đã nhấn mạnh: trái đất ngày càng nóng lên là một hiện tượng chắc chắn sẽ xảy ra và sự biến đổi khí hậu sẽ gây ra những sự thay đổi đột ngột là không thể tránh khỏi. Nhiều tư liệu về tan băng ở Bắc Cực, về sự “chìm dần” của các hải đảo đã được dẫn chứng. Nhiều kịch bản đã được tính toán tuỳ thuộc vào lượng khí thải CO2.
Báo cáo số WPS 4136 tháng 2 năm 2007 của Ngân hàng Thế giới đã chỉ ra rằng tác động của biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực, đặc biệt mực nước biển dâng sẽ tác động nghiêm trọng đến những vấn đề lớn như đất đai, dân số, đô thị, nông nghiệp, tổng thu nhập quốc dân… Cũng theo báo cáo trên, Việt Nam là nước thứ 5 trên thế giới và là nước thứ nhất trong khu vực Đông Nam Á bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi mực nước biển dâng. Theo kịch bản mực nước biển dâng cao 1 mét vào năm 2100 thì Việt Nam sẽ có 5,3% diện tích đất, 10,8% dân cư, 10,2% GDP, 10,9 diện tích đô thị, 7,2% diện tích nông nghiệp, và 28,9% diện tích đất trũng bị tác động. Nếu theo kịch bản mực nước biển dâng cao 5 mét vào năm 2100 thì Việt Nam sẽ có khoảng 16% diện tích đất, 38% dân cư, 36% GDP, 41% diện tích đô thị, 24% diện tích nông nghiệp và 86% diện tích đất trũng bị tác động. Nếu kịch bản 5 mét là có thực thì đây là thảm hoạ dân tộc trong những năm cuối thế kỷ 21.
Trong thông điệp nhân ngày Môi trường Thế giới 5 – 6 – 2008, Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon nói: “Bằng chứng đáng lo ngại nhất về sự biến đổi khí hậu là ở hai cực của trái đất. Bắc Cực đang nóng lên nhanh gấp hai lần so với mức trung bình toàn cầu. Tuy nhiên, đây không chỉ là vấn đề của vùng cực. Khi mực nước biển dâng lên cư dân ở những hòn đảo nằm thấp và các thành phố duyên hải trên toàn thế giới sẽ phải đối mặt với nạn ngập lụt”.
Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam ngày càng trở nên trầm trọng, thể hiện qua nhiệt độ không khí trung bình tăng cao, đến năm 2100 đạt 3 0C; tần suất các cơn bão ngày càng tăng và có xu hướng dịch chuyển xuống phía Nam; lũ lụt xảy ra khốc liệt hơn; hạn hán cũng gay gắt hơn; nước mặn thâm nhập sâu vào đất liền hàng chục km ảnh hưởng nghiêm trọng đến canh tác; mực nước biển dâng cao trung bình 2,5 – 3,0 cm trong 10 năm và đến năm 2100 đạt 1 mét.
Tất cả những dự báo, cảnh báo và thực tế trên khiến mọi cấp chính quyền, mọi người dân phải có nhận thức nghiêm túc và có những biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả đối với biến đổi khí hậu.
Báo cáo này sẽ đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến vùng ven biển Việt Nam theo sáu tiêu chí của ngân hàng thế giới chỉ tính riêng cho kịch bản mực nước biển dâng cao 1 mét. Đó là các tiêu chí đất đai, dân số, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), khu vực thành thị, khu vực nông thôn và vùng đất trũng.
Nguy cơ mất đất
Nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, 5,3% diện tích toàn lãnh thổ bị ảnh hưởng trong đó 4,4% lãnh thổ Việt nam bị ngập vĩnh viễn, đồng nghĩa với khoảng 20% xã trên cả nước, 9.200 km đường bộ bị xoá sổ.
Theo dự báo của Trung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường (ICEM), nhiều vùng như Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cà Mau… sẽ ngập chìm từ 2 – 4m trong vòng 100 năm tới. Khoảng 40.000 km2 vùng ven biển sẽ bị ngập lụt hàng năm (Xem bảng 1).
Bảng 1. Diện tích đất (%) các nước Đông Á bị tác động bởi mực nước biển dâng cao 1 mét, (nguồn WB)
Nước | DT |
Việt Nam | 5,3 |
Đài Loan | 1,8 |
Myanmar | 0,7 |
Indonesia | 0,7 |
Thái Lan | 0,3 |
Campuchia | 0,4 |
Philippin | 0,5 |
Hàn Quốc | 0,4 |
Triều Tiên | 0,2 |
Malaisia | 0,2 |
Brunei | 0,2 |
Trung Quốc | 0,3 |
Niu Ghinê | 0,1 |
Miền Bắc Việt Nam sẽ có 2.983 km2 bị ngập, trong đó có 1.668 km2 đất thuộc đồng bằng sông Hồng.
Tại vùng đồng bằng duyên hải Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ, mực nước biển dâng sẽ thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, tạo điều kiện xói lở bờ biển, gây khó khăn cho nghề cá do những thay đổi theo hướng xấu đi của phần lớn nguồn lợi thuỷ sản. Diện tích sinh sống của các khu dân cư ven biển bị thu hẹp, khả năng xói lở bờ biển tăng lên.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ có khoảng 90% diện tích trồng lúa bị ngập hoàn toàn (không sản xuất được), các tỉnh có tỷ lệ ngập cao theo thứ tự lần lượt là Bạc Liêu, Bến Tre, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh và Vĩnh Long.
Tác động đến dân số
Theo báo cáo Phát triển con người năm 2008 của UNDP và Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố ngày 28 – 11 – 2008 tại Hà Nội thì Việt Nam có khoảng 22 triệu người bị mất nhà cửa khi mực nước biển dâng cao 1 mét (xem bảng 2).
Bảng 2. Dân số (%) các nước Đông Á bị tác động bởi mực nước biển dâng cao 1 mét, (nguồn WB)
Nước | Dân số |
Việt Nam | 10,8 |
Đài Loan | 3,7 |
Myanmar | 1,3 |
Indonesia | 2,1 |
Thái Lan | 1,2 |
Campuchia | 0,7 |
Philippin | 1,0 |
Hàn Quốc | 0,1 |
Triều Tiên | 0,1 |
Malaisia | 0,3 |
Brunei | 0 |
Trung Quốc | 2,3 |
Niu Ghinê | 0 |
Gần 2 triệu cư dân lưu vực sông Hồng bị ảnh hưởng.
Theo báo cáo tại hội thảo “TP Đà Nẵng và biến đổi khí hậu” được tổ chức ngày 20 – 2 – 2008 trong 30 năm nữa, khi mực nước biển dâng 30cm thì sẽ có 30.000 hộ với hơn 170.000 người ở 18 xã phường ven biển mất nhà ở, số lượng nhà cửa vùng nông sẽ bị ngập sẽ tăng lên 40.000 nhà.
ĐBSCL, nơi hơn 18 triệu người đang sinh sống, hiện cung cấp cho cả nước 60% sản lượng lương thực, 90% sản lượng gạo xuất khẩu và 65% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.
Tác động đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Nếu mực nước biển dâng cao thêm một mét vào khoảng 2100, GDP của Việt Nam sẽ mất khoảng 10,2%, Việt Nam sẽ chịu mức thiệt hại lên tới 17 tỷ USD mỗi năm. Trong khi đó kinh tế biển và ven biển đóng góp gần 50% GDP cả nước (xem bảng 3).
Bảng 3. GDP (%) các nước Đông Á bị tác động bởi mực nước biển dâng cao 1 mét (nguồn WB)
Nước | GDP |
Việt Nam | 10,2 |
Đài Loan | 2,0 |
Myanmar | 1,0 |
Indonesia | 2,3 |
Thái Lan | 1,8 |
Campuchia | 1,0 |
Philippin | 0,4 |
Hàn Quốc | 0 |
Triều Tiên | 0 |
Malaisia | 0,5 |
Brunei | 0 |
Trung Quốc | 2,8 |
Niu Ghinê | 0 |
Nếu mực nước biển dâng cao 5 mét thì 36% GDP của Việt Nam sẽ bị mất. Đây thực sự là một thảm hoạ.
Tác động đến khu vực đô thị
Hầu hết các thành phố lớn và khu công nghiệp trọng điểm đều phân bố ở vùng ven biển. Những năm qua đã chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu như bão lũ, ngập lụt, mực nước biển dâng, xói lở đường bờ…
Chưa bao giờ đường phố Hà Nội và TP Hồ Chí Minh trở thành sông sau những đợt triều cường và mưa lớn như những năm gần đây.
Dự kiến đến năm 2100, mực nước biển dâng thêm 1 mét so với hiện nay. Khi đó, gần như toàn bộ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long bị nhấn chìm, 1700 km2 ở Đồng bằng sông Hồng bị ảnh hưởng.
Có nhiều đô thị lớn tưởng như “bình an vô sự” nhưng thực ra cũng chịu tác động không nhỏ. Cụ thể như thành phố Hồ Chí Minh, khi mực nước biển dâng lên 2 mét sẽ khiến thành phố gần như bị chìm. Trong khi đó, nếu mực nước này dâng lên 3 – 4m, Hà Nội sẽ bị tác động.
Cũng giống như các đô thị lớn trên thế giới với đặc thù dân số đông, tốc độ đô thị hoá nhanh sẽ khiến các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh phải chịu những hậu quả nặng nề nếu không có biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu hữu hiệu.
Nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, 11% khu đô thị Việt Nam bị ảnh hưởng và nếu mực nước biển dâng cao 5 mét thì có tới 41% khu vực đô thị Việt Nam bị tác động xấu (xem bảng 4).
Bảng 4. Khu vực đô thị (%) các nước Đông Á bị tác động bởi mực nước biển dâng cao 1 mét (nguồn WB)
Nước | DT |
Việt Nam | 10,2 |
Đài Loan | 2,0 |
Myanmar | 1,0 |
Indonesia | 2,3 |
Thái Lan | 1,8 |
Campuchia | 1,0 |
Philippin | 0,4 |
Hàn Quốc | 0 |
Triều Tiên | 0 |
Malaisia | 0,5 |
Brunei | 0 |
Trung Quốc | 2,8 |
Niu Ghinê | 0 |
Tác động đến khu vực công nghiệp
Các khu công nghiệp trọng điểm đều tập trung ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Trên 80% diện tích ĐBSCL và 30% diện tích đồng bằng sông Hồng chỉ cao hơn mực nước biển 2 – 2,5m.
Đến nay 75% dân số Việt Nam đang sống, làm việc trên vùng đất nông nghiệp và nếu vùng đất nông nghiệp này bị ngập sẽ tác động đến 15% dân số tương đương với 12 – 15 triệu người. Nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, 7,2% diện tích nông nghiệp sẽ bị tác động, mỗi năm thiệt hại 5 triệu tấn lúa (xem bảng 5).
Bảng 5. Khu vực đô thị (%) các nước Đông Á bị tác động bởi mực nước biển dâng cao 1 mét (nguồn WB)
Nước | NN |
Việt Nam | 7,2 |
Đài Loan | 2,0 |
Myanmar | 2,3 |
Indonesia | 0,8 |
Thái Lan | 0,5 |
Campuchia | 0,3 |
Philippin | 0,2 |
Hàn Quốc | 0,1 |
Triều Tiên | 0 |
Malaisia | 0,1 |
Brunei | 0,2 |
Trung Quốc | 0,6 |
Niu Ghinê | 0 |
Hiện các nhà khoa học Việt Nam đang theo dõi, tính toán 3 kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt Nam gồm: mực nước biển dâng 70cm; 1 – 1,5cm; 3m. Nếu theo kịch bản thấp nhất là mực nước biển dâng đến 70cm thì trên 10% diện tích ĐBSCL sẽ bị ngập nước, ảnh hưởng đến 10% năng suất và sản lượng lương thực, thực phẩm. Còn nếu theo kịch bản mực nước biển dâng đến 3 m thì toàn bộ vùng ĐBSCL và sông Hồng sẽ bị ngập.
Tác động đến vùng đất trũng
Nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, 28,9% diện tích đất trũng của Việt Nam bị tác động. Khoảng 15.000 đến 20.000 km2 vùng đất thấp ven biển bị đe doạ. Hầu hết rừng ngập mặn bị đe doạ, đặc biệt là vùng bán đảo Cà Mau, dẫn đến hệ sinh thái rừng ngập mặn bị phá vỡ (xem bảng 4).
Bảng 5. Vùng đất trũng (%) các nước Đông Á bị tác động bởi mực nước biển dâng cao 1 mét (nguồn WB)
Nước | ĐTr |
Việt Nam | 28,2 |
Đài Loan | 12,3 |
Myanmar | 9,3 |
Indonesia | 1,2 |
Thái Lan | 3,1 |
Campuchia | 0,1 |
Philippin | 4,8 |
Hàn Quốc | 4,9 |
Triều Tiên | 0,1 |
Malaisia | 9,3 |
Brunei | 0 |
Trung Quốc | 2,0 |
Niu Ghinê | 0 |
Tác động do nhiễm mặn
Do mực nước biển dâng cao, tình trạng nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền càng phổ biến. Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long là những nơi bị nước mặn xâm nhập nặng nề nhất. Ở đồng bằng sông Hồng nước mặn xâm nhập vào sâu 30 – 50km, còn ở đồng bằng sông Cửu Long là 60 – 70km.
Diện tích đất bị xâm nhập mặn, đất bị khô hạn, nhiễm phèn ngày càng gia tăng. Hiện nay, có khoảng 2,1 triệu ha đất bị nhiễm mặn và 1,6 triệu ha đất nhiễm phèn, khô hạn.
ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất nước và có thế mạnh về nuôi trồng thuỷ sản nên 2 lĩnh vực này sẽ chịu tác động mạnh nhất khi quá trình xâm nhập mặn làm thay đổi môi trường đất và nguồn nước. Hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng sẽ chịu tác động xấu khi chế độ nước ngập sâu bị thay đổi do nước biển dâng cao. Quá trình xâm nhập mặn ở mức độ cao có thể huỷ diệt thảm thực vật và tính đa dạng sinh học của sinh thái rừng tràm ở Cà Mau, Kiên Giang…
Nếu mực nước biển dâng cao 1m, phần lớn ĐBSCL sẽ hoàn toàn ngập trắng nhiều thời gian dài trong năm.
Các biện pháp thích ứng
Uỷ ban quốc tế về biến đổi khí hậu (IPCC) đã khuyến cáo 3 biện pháp cơ bản thích ứng với biến đổi khí hậu, đó là:
Bảo vệ đầy đủ: tôn cao các tuyến đê, tăng cường quản lý ven bờ, ngăn ngừa xâm nhập mặn, tôn cao đất đai và các công trình ven biển như các cảng, khu kho bãi, khu công nghiệp…
Thích nghi: cải tạo cơ sở hạ tầng và chuyển đổi tập quán sinh hoạt, canh tác của dân cư ven biển,
Né tránh: tái định cư, di dời cơ sở hạ tầng ra khỏi khu vực nguy hiểm vào sâu trong lục địa lên vùng cao hơn.
Tuỳ tình hình cụ thể, các quốc gia, các địa phương lựa chọn cho mình các biện pháp phù hợp để thích nghi với biến đổi khí hậu.
Đối với Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo rất mạnh mẽ, Nhà nước sẽ có một chương trình đặc biệt thích ứng với biến đổi khí hậu. Các Bộ sẽ xây dựng chương trình hành động trên cơ sở chiến lược chung của quốc gia, mỗi ngành có một chương trình hành động.
Về công tác giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu, kêu gọi các nước phát triển thể hiện vai trò đi đầu bằng cách tới năm 2050 cắt giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 80% và đến năm 2020 ít nhất 30% so với mức của năm 1990. Cần đẩy mạnh việc thay thế cho các nguyên liệu không tái tạo được mà gây hiệu ứng nhà kính, sản sinh CO2 (ví dụ như than đá…) bằng sử dụng các nguồn năng lượng sạch như: năng lượng mặt trời, gió, sóng biển…
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, với 9 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu. Chương trình sẽ được thực hiện trên toàn quốc, trong 3 giai đoạn: từ năm 2009 – 2010 là giai đoạn khởi động; từ năm 2011 – 2015 là giai đoạn triển khai và sau năm 2015 là giai đoạn phát triển. Tổng vốn đự kiến từ năm 2009 – 2015 là 1.965 tỷ đồng.
Kết luận
Mực nước biển dâng là một trong những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Mực nước biển dâng ở Việt Nam là có thực, đang hiển hiện từng ngày. Đến năm 2100 mực nước biển sẽ dâng cao 1 mét. Nó đã và đang gây ra nhiều tác động xấu đến phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng.
Ứng phó với mực nước biển dâng là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng… của cả nước.
Để giảm nhẹ những hậu quả do mực nước biển dâng, các cấp chính quyền cần có những động thái mạnh mẽ hơn: xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia; hướng dẫn cụ thể cho các ngành, các địa phương chủ động xây dựng chuơng trình phù hợp.
Bên cạnh trách nhiệm và hành động của các nhà quản lý, nhà khoa học, mỗi người dân ở địa phương cũng cần có ý thức và hành động thiết thực để góp phần giảm nhẹ các tác động của biến đổi khí hậu.
Tài liệu tham khảo
1. Báo cáo số WPS 4136 tháng 2 năm 2007 của Ngân hàng thế giới.
2. Susmita Dasgupta, Benoit Laplante, Graig Meisner, David Wheeler and Jianping Yan, 2007. Tác động của mực nước biển dâng đến các nước đang phát triển. Phân tích và so sánh. Nghiên cứu chính sách Ngân hàng thế giới.
3. Dự án VNICZM, 2006. Tập át lát vùng ven biển Việt Nam. Cục Bảo vệ môi trường Việt Nam - Bộ Tài nguyên và Môi trường.
4. Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC, 2007. Biến đổi khí hậu 2007: Những tác động, thích ứng và nguy cơ thiệt hại.
5. Nguyễn Hữu Ninh, Những nguy cơ thiệt hại, thích ứng và khả năng phục hồi đối với biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Hội thảo quốc tế tại Chiềng Mai, Thái Lan, 1 – 3 tháng 4 năm 2007.
6. Nguyễn Thế Tưởng, 2006. Đo đạc mực nước biển và nước biển dâng ở Việt Nam. Trung tâm khí tượng Thuỷ văn Việt Nam.
7. Reiner Wasssmann, Nguyễn Xuân Hiền Thái Hoành và Tô Phúc Tường, 2004. Ảnh hưởng của mực nước biển dâng tại Đồng bằng sông Cửu Long: Dao động mực nước và mùa lũ và những khó khăn trong sản xuất lúa. Biến đổi khí hậu 66, 89 – 107.








