Sự phong phú của đời sống biển trong quá khứ
Cũng vào thời điểm đó, các nhà nghiên cứu Anh Quốc cho biết những tốp cá heo xanh và cá kình, cá mập xanh và cá nhám đuôi dài vùng vẫy ngoài khơi Cornwall, Anh Quốc, những đàn cá heo tìm kiếm mồi ở thượng lưu.
Sử dụng rất nhiều nguồn như nhật ký hàng hải, sáng tác văn học, những tài liệu luật pháp được biên dịch và thậm chí những vật kỷ niệm, các nhà nghiên cứu Census đang tập trung những hình ảnh – một số không rõ nét và một số có độ phân giải cao – của những loài cá với kích thước như vậy, phân bố rộng khắp và phong phú trong quá khứ.
Họ cũng tập trung tài liệu về quãng thời gian mà những cộng đồng các loài vật khổng lồ này suy giảm. Ví dụ, các nhà khoa học Census cho biết kích thước của cá nước ngọt tại châu Âu bắt đầu giảm dần vào thời Trung Cổ.
Các nhà nghiên cứu James Barret và Jen Harland (Đại học Cambridge, Anh Quốc), Cluny Johnsone (Đại học York, Anh Quốc) và Mike Richards (Học viện Max Planck, Đức) cho biết việc chuyển từ tiêu thụ cá nước ngọt sang những loài cá biển bắt đầu từ những năm 1000 sau Công Nguyên.
Điều này cũng phù hợp với những phân tích dữ liệu lịch sử từ Anh Quốc và Đông Bắc châu Âu, cho thấy cá nước ngọt trở nên nhỏ hơn, và số lượng loài ít hơn ở đầu thời Trung Cổ, do sự khai thác và ô nhiễm tăng.
Maria Lucia De Nicolo thuộc Università di Bologna nhận định rằng thuyền và dụng cụ đánh cá được phát minh những năm 1500 khiến việc đánh cá chuyển từ vùng bờ biển đến những vùng nước sâu hơn. Cuộc cách mạng hóa đánh cá biển bắt đầu từ giữa những năm 1600 khi các cặp thuyền cùng kéo một lưới.
Đánh giá đời sống biển hiện đại qua khung cửa hạn hẹp của những quan sát trong những thập kỷ gần đây “bóp méo nhận thức”,Andy Rosenberg thuộc Đại học New Hampshire, trưởng dự án Lịch sử của cộng đồng sinh vật biển (HMAP) của Censes, đồng thời là chủ tích hội nghị, cho biết. Ông nhận định rằng những kiến thức mới, tập hợp thông tin trong nhiều thế kỷ, làm thay đổi quan niệm về kích thước, môi trường sống, sự phong phú của đời sống biển tự nhiên, và khiến những nhà cầm quyền phải xem xét lại ranh giới đời sống biển.
Ở hầu hết mọi nơi, những thay đổi do con người tạo ra đối với hệ sinh thái biển đã diễn ra trong hàng thiên niên kỷ trong khi những thông tin đáng tin cậy chỉ giới hạn trong vài thế kỷ trở lại đây. Tuy nhiên New Zealand, nơi khoảng 300 người dân đảo phía Đông Thái Bình Dương đặt chân đến lần đầu tiên vào năm 1280 sau công nguyên, ghi chép về tác động của con người đối với môi trường biển, bao gồm sự săn bắt cá voi đầu bò, khá ngắn và đầy đủ.
Những tài liệu lịch sử này cho phép các nhà nghiên cứu xác định mức độ thay đổi ở ít nhất một hệ sinh thái biển, từ trước khi con người xuất hiện cho đến nay, và làm tăng độ tin cậy của những phát hiện này đối với các nhà hoạch định chính sách, những người sẽ sử dụng những kết quả đó như một ranh giới thực tế cho việc kiểm soát tình trạng hệ sinh thái biển hiện nay và trong tương lai.
Số lượng loài cá voi đầu bò phương Nam (Eubalaena australis) của New Zealand trong quá khứ đã được kết hợp vào những mô hình hệ sinh thái bờ biển New Zealand để giúp hướng dẫn việc bảo tồn và quản lý.
Nhóm nghiên cứu HMAP Census, Jennifer Jackson và Scott Baker (Đại học bang Oregon, Hoa Kỳ), Emma Carroll và Nathalie Patenaude (Đại học Auckland, New Zealand), và Tim Smith (Cơ quan đời sống biển quốc gia Hoa Kỳ), ước lượng số lượng cá voi qua việc phân tích hơn 150 nhật ký hàng hải và các ghi chép khác.
Họ cho biết rằng số lượng cá voi đầu bò phương nam nằm vào khoảng 22.000 đến 32.000 đầu những năm 1800, và giảm sút nhanh chóng khi việc săn bắn cá voi bắt đầu.Cho đến năm 1925, chỉ còn khoảng 25 con cái có khả năng sinh sản còn sống sót.Số lượng còn lại ngày nay – hy vọng đang phục hồi dần – khoảng 1.000 con cá voi, hiện đang được nghiên cứu quanh những hòn đảo bán Nam cực phía Nam New Zealand.
Alison MacDiarmid, nhà khoa học thuộc chính phủ New Zealand, cho biết: “Những phát hiện này chỉ ra sự cần thiết của việc tái xác định tầm quan trọng của cá voi đầu bò phương nam trong quá khứ, với vai trò động vật ăn sinh vật phù du cũng như trong vai trò con mồi cho cá voi sát thủ và cá mập trắng”.
Hội nghị quá khứ biển II, 2009
Các nhà khoa học quốc tế đến Vancouver tham gia hội nghị Quá khức biển lần thứ 2 (26-28 tháng 5, do Đại học Bristish Columbia chủ trì), chia sẻ nhiều điều ngạc nhiên khác:
Sự đánh bắt cá của con người và tác động đối với đời sống biển gần bờ và quanh các đảo – bao gồm sự đánh bắt sinh vật biển có vỏ (trai, sò, tôm, cua), cá có vây và các loài sinh vật biển có vú khác – bắt đầu từ giữa thời kỳ đồ đá – 300.000 đến 30.000 năm trước – sớm hơn gấp 10 lần những suy nghĩ trước đây.
Những đoạn thơ Latin và Hy Lạp được viết trong thế kỷ thứ 2 CE cho thấy người La Mã đã bắt đầu đánh bắt cá bằng lưới.
Từ đầu đến giữa thế kỷ 19, những năm mà việc lạm dụng đánh bắt cá dẫn đến thời tiết khắc nghiệt và cuối cùng là sự biến mất của loài cá trích. Sau đó, loài sứa vốn là con mồi của cá trích phát triển mạnh, làm thay đổi nghiêm trọng mạng lưới thức ăn.
Giữa những năm 1800, loài ốc mút và rong rau mơ được đưa từ Anh Quốc đến Nova Scotia – mở đầu cho hàng loạt những loài vật “xâm lấn” được đưa đến Bắc Mỹ.
Trong vòng chưa đầy 40 năm, loài cá ngựa Philippine giảm xuống chỉ còn 10%. Con số này được tính toán từ những ghi chép đánh bắt cá, cứ mỗi đêm 200 con cá ngựa bị đánh bắt.








